Nguồn gốc, giá trị kinh tế và tình hình sản xuất

Cây sầu riêng có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á, ở Malaysia và Indonesia. Nhưng sầu riêng được trồng nhiều ở Thái Lan, Malaysia, Inđônêsia, Việt Nam, Mianma, Philippin, Campuchia, Lào, ngoài ra còn trồng ở Ấn Độ, Srilanca, Brunây.

Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây sầu riêng

Sầu riêng là một loại quả rất bổ, các giá trị về calo, đường, đạm, chất béo, chất khoáng đều rất cao so với các loại quả khác. Hạt sầu riêng chứa 3,1% protit, 0,4% lipit, các chất P, Na, K, Ca, Mg, Fe, vitamin B1, B2, C... do đó cũng được sử dụng làm thức ăn và làm thuốc bổ dưỡng. Bột hạt sầu riêng được dùng làm chất phụ gia trong chế biến kẹo, mứt…

Sầu riêng thường dùng để ăn tươi, sau khi tách vỏ, cơm sầu riêng được dùng để ăn trực tiếp. Ngoài ăn tươi, sầu riêng còn có nhiều công dụng khác như: Chế biến thành kẹo, bánh. Làm phụ gia để tăng mùi vị cho kem, nước giải khát. Hạt sầu riêng còn được luộc, nướng hoặc rang chín, ăn bùi như hạt dẻ, hạt mít. Gỗ dùng trong xây dựng và làm đồ đạc như bàn, ghế và đồ gia dụng trong nhà. Rễ và lá làm thuốc hạ sốt, trị vàng da do gan: Theo kinh nghiệm dân gian lấy 10 - 20g rễ và lá sầu riêng thái nhỏ, phơi khô, sắc với 200ml nước còn 50ml uống hàng ngày, đồng thời lấy lá tươi nấu nước tắm cho người bị vàng da do gan. Vỏ thân cây sầu riêng dùng nấu nước tắm chữa bệnh ngoài da và diệt chấy, rận, rệp... Vỏ quả sầu riêng còn được dùng làm thuốc bổ khí, chữa đầy bụng, khó tiêu, ho do hàn, cảm sốt. Sau khi ăn người ta lấy vỏ rửa sạch, dùng 15 - 20g thái nhỏ nấu nước uống/ngày hoặc thái lát mỏng, phơi khô để dùng dần.

Ở nước ta, sầu riêng là một trong những loại quả có giá trị cao hơn hẳn so với nhiều loại quả khác. Với năng suất bình quân của giống sầu riêng hạt lép từ 7 năm tuổi trở lên có khoảng 15 tấn quả/ha, với giá bán 30.000-35.000 đồng/kg, sẽ cho thu nhập từ 280.000.000 đến 350.000.000 đồng/ha. Nếu điều khiển được sầu riêng nghịch vụ thì giá trị này còn cao hơn nữa.

 Tình hình sản xuất sầu riêng trên thế giới

   Trên thế giới, sầu riêng được trồng ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippine, Việt Nam, Ấn Độ, Srilanka, Căm Pu Chia, Bắc Australia …

-  Thái Lan là nước chiếm khoảng 58% toàn bộ sản lượng sầu riêng trên thế giới. Theo một tác giả người Pháp ghi lại vào năm 1682, người Thái đã du nhập sầu riêng từ Malaysia với dòng Durio zibethinuts và trồng đầu tiên ở tỉnh Thonburi, sau đó mở rộng vùng trồng tại Băng Cốc, Nonthaburi và Smutsongkram. Hiện Thái Lan có 82 giống trồng trong đó có 4 giống chủ lực là Monthong ( chiếm 54%), Chanee ( 37%), Kanyao (6%), Kradum Thong ( 3%). Các giống khác diện tích không đáng kể, chủ yếu làm vật liệu chọn, tạo giống. Theo Lim T.K., năm 2013 Thái lan xuất khẩu 53 869 tấn quả tươi và 2559 tấn đông lạnh với giá trị trên 50 triệu US$. Khách hàng chính là Trung Quốc, Hồng Kong, Đài Loan và Nhật Bản.

-  Ở Malaysia sầu riêng được trồng ở tất cả các bang. Trong Chương trình phát triển cây ăn quả quốc gia, sầu riêng được coi là một trong 8 loài chủ lực ( sầu riêng, mít, đu đủ, vú sữa, dưa hấu, lòn bon, xoài, chôm chôm). Diện tích trồng sầu riêng tăng khá nhanh: Năm 1985 có 31 000 ha, năm 2011 đã tăng gấp đôi (62 153 ha). Hàng năm nước này xuất khẩu khoảng 30 000 tấn quả tươi, chủ yếu sang Singapor.  Giống lai được trồng phổ biến nhất là D24 chiếm đến 70% diện tích trồng sầu riêng của Mã Lai.

-  Tại Indonesia, vùng trồng sầu riêng chủ yếu ở phía tây, tập trung tại Sumatra và Java, chiếm 75 % diện tích cả nước. Năng suất trung bình thấp, chỉ đạt 4,2-5,6 tấn/ha. Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong nước. Xuất khẩu hàng năm khoảng 1000 tấn. Giá bán trong nước rất chênh lệch: vùng xa thị trường chỉ bán được 0,25 US$/kg, còn ở thủ đô Jacacta sầu riêng trái vụ tới  5 US$/kg. Các giống sầu riêng được trồng chủ yếu là Sunan, Monthong, Sukun, Sitokong, Simas, Petrack, Chanee.

Ở Philippines, giống trồng chủ yếu là Chanee và Monthong. Ở Brunei diện tích sản xuất không lớn chỉ vài trăm ha.

 

TT

Nước sản xuất

Năm

Diện tích trồng ( ha)

Sản lượng ( tấn)

Nguồn tài liệu

1

Thái Lan

2010

125 383

826 366

Thị trường cây ăn quả số 49- 50 /2012

2

Malaxia

2011

62 153

389 900

nt

3

Indonexia

2013

44 016

228 668

nt

4

Việt Nam

2010

16 838

72 000

Nguyễn Minh Châu

5

Phillipin

2014

8 000

-

Thị trường CAQ, số 49/50

 

     Đặc biệt quỹ gen lưu giữ trong tập đoàn sầu riêng ở các nước này cũng rất lớn: Indonexia- 5270 loài, Malaxia- 586, Thái Lan- 169, Phillipin- 97. Có thể nói quỹ gen sầu riêng ở các nước trong vùng được xếp hàng đầu so với quỹ gen các cây ăn quả khác ( Trần Thế Tục, 2005).

-   Thị trường sầu riêng thế giới

    Trên thế giới có 3 nước xuất khẩu sầu riêng chủ yếu là Thái lan, Malaysia và Indonesia. Trong đó Thái lan là nước sản xuất và xuất khẩu sầu riêng lớn nhất, kế đến là Malaysia rồi mới đến Indonesia.

     Singapore, Hồng Kông và Đài Loan là ba nước nhập khẩu sầu riêng chính trên thế giới. Singapore là thị trường nhập khẩu sầu riêng lớn nhất, sau đó mới đến Hồng Kông. Đài Loan chỉ là thị trường nhập khẩu sầu riêng lớn ở châu Á.

     Mỹ là thị trường nhập khẩu sầu riêng lớn ở khu vực Bắc Mỹ.

    Canada và thị trường châu Âu nhập khẩu sầu riêng không lớn, chủ yếu phục vụ người tiêu dùng có nguồn gốc Đông Nam Á.

    Pháp là thị trường nhập khẩu sầu riêng tươi và sầu riêng đông lạnh lớn nhất trong các nước thuộc thị trường châu Âu.

Tình hình sản xuất sầu riêng ở Việt Nam

     Theo các tác giả Lê Thanh Phong, Võ Thanh Hoàng, Dương Minh (1994) sầu riêng du nhập vào nước ta từ Thái lan và trồng đầu tiên ở Tân Quy ( Biên Hòa ) từ những năm 30 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, theo Nguyễn Đình Khang ( 1992) trong bài:" Xuất xứ vài loại trái cây ở Việt Nam" lại cho rằng sầu riêng do cha cố Gernet đưa từ quần đảo Indonexia sang từ cuối thế kỷ 19. Minh chứng này đáng tin cậy hơn.

Sầu riêng được trồng chủ yếu ở Đông Nam bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long, nhiều nhất là các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Lâm Đồng. Một số nơi khác như Quảng Nam, Huế, Khánh Hòa cũng đã trồng được sầu riêng có quả to (hình 7), ngọt nhưng ít mùi thơm hơn. Diện tích trồng sầu riêng vẫn đang tiếp tục mở rộng. Đến nay, cả nước có khoảng 17.000ha. 

 

TT

Tỉnh

Diện tích (ha)

% d.tich

Sản lượng (Tấn)

% sản lượng

1

Đồng Nai

2713

16,4

11339

15,5

2

Bình Phước

2100

12,7

2070

2,8

3

Vĩnh Long

2009

12,1

30135

41,2

4

Tiền Giang

2001

12,1

28610

29,5

5

Bình Dương

1248

7,3

1622

2,2

6

Bến Tre

2139

13,0

1711

2,3

7

Tp. Hồ Chí Minh

500

3,0

180

0,2

8

Các tỉnh khác(Chủ yếu Tây Nguyên)

3824

23,1

6500

8,9

9

Tổng

16 534

100,0

80 099

100,0

  Nguồn: Chi cục khuyến nông và khuyến lâm TP.HCM - Sở nông nghiệp các tỉnh Nam Bộ ( 2015).

       Về năng suất. Năng suất chung đạt 4,42 tấn/ ha, tương đương với các nước trong khu vực, nhưng rất không đồng đều tại các tỉnh. Vĩnh Long có năng suất cao nhất, đạt 15 tấn/ha, kế đó là Tiền Giang: 14 tấn. Các tỉnh này có diện tích lớn ( đạt hơn 2000 ha). Năng suất thấp nhất là Bình Phước ( 0,77 tấn/ha), và Bến Tre ( 0,8 tấn). Năng suất không đồng đều do nhiều yếu tố: Tỷ lệ tuổi cây 7 năm trở lên, giống, kỹ thuật canh tác, điều kiện tự nhiên ( khí hậu, đất đai...). Vấn đề này rất cần các nghiên cứu cơ bản.

       Ở nước ta có khá nhiều giống sầu riêng được trồng tại các tỉnh hiện nay, có thể phân chia thành hai nhóm chính:

-  Giống truyền thống lâu đời ở địa phương: bao gồm các giống sầu riêng Khổ hoa xanh, Lá quéo, Chuồng bò…Trong đó, sầu riêng Khổ hoa xanh chiếm đa số, các giống khác có diện tích không đáng kể. Các vườn sầu riêng giống địa phương thường có độ tuổi trên 10 năm.

-  Giống mới hạt lép: phổ biến là 3 giống sầu riêng cơm vàng hạt lép Chín Hoá, Ri6 và Monthong (xuất xứ Thái Lan). Các giống trên được trồng sau này, độ tuổi trung bình của vườn cây dưới 10 năm. Trong các giống sầu riêng được trồng thì mỗi loại sầu riêng lại có những ưu thế riêng. Đặc điểm một số giống phổ biến ở địa phương như sau: 

-  Sầu riêng khổ hoa xanh: Đây là giống sầu riêng được trồng lâu năm nhất trên địa bàn,  sầu riêng này có phẩm chất ngon,  năng suất khá cao. Tuy nhiên,  nhược điểm là cơm trái rất mỏng, tỷ lệ thịt ăn được thấp.

-  Sầu riêng  Monthong:  là giống sầu riêng được nhập khẩu vào từ Thái Lan,hiện đang là giống được ưa chuộng nhất. Sầu riêng Monthong có năng suất khá cao, mỗi cây có 30-50 quả/năm,    trái to  -  khối lượng trung bình 3-5kg/quả,  cơm rất dày, màu vàng, ráo múi, ngọt, mùi thơm dịu, bảo quản được lâu. Tuy nhiên,  cây cũng có nhược điểm là trái dễ bị sượng vào mùa mưa và chống chịu sâu bệnh kém.

-  Sầu riêng Ri6: trái khá to  -  khối lượng trái trung bình 3-  3, 5kg,  năng suất cao.  Cơm mềm,  có màu vàng rất hấp dẫn, độ ngọt cao,  tỷ lệ cơm trên trái khoảng trên 30%, chống chịu sâu bệnh khá tốt. Do Monthong và Ri6 là những giống sầu riêng có năng suất và giá trị kinh tế cao, lại phù hợp với điều kiện địa phương nên trong khoảng thời gian gần đây 2 giống này được nông dân địa phương ưa chuộng.

-  Sầu riêng Chín Hóa có trái khá to, đẹp,  tuy vậy  giống  sầu riêng  này  có một nhược điểm lớn là cơm rất nhão, trái dễ bị nứt nên hơi khó cho việc vận chuyển tiêu thụ và bảo quản.

Đặc điểm ra hoa và đậu quả của sầu riêng.

      Giai đoạn nở hoa, đậu quả và mang quả hàng năm chiếm thời gian khá dài (từ tháng 12 năm trước đến tháng 7 năm sau).  Hoa nở từ 15 giờ chiều cho đến 6h sáng hôm sau. Bao phấn nứt từ 19 giờ tới 23 giờ đêm thì mới có thể thụ phấn tốt cho nhụy, nhưng lúc này nhụy đã tàn. Vì vậy hoa sầu riêng thường không tự thụ phấn được mà cần nhờ phấn của cây khác qua gió, côn trùng, dơi... Chính vậy, trên một chùm có rất nhiều hoa, nhưng tỉ lệ đậu quả rất thấp, trung bình chỉ có non nửa số hoa trong chùm thụ phấn được thành quả. Sau đó quả tiếp tục bị rụng. Muốn có năng suất cao thường phải thụ phấn bổ sung. Vì khi được thụ phấn hoàn hảo, quả phát triển đều. Nếu thụ phấn không hoàn hảo thì quả bị rụng hoặc có đậu thì quả bị méo mó, chỗ méo không có cơm. Hiểu được đầy đủ quy luật hoạt động của các bộ phận của cây trong chu kỳ hàng năm sẽ giúp nhà vườn điều khiển được phần nào cây sầu riêng theo ý muốn.

Đặc điểm sinh thái của cây sầu riêng

Nhiệt độ đối với cây sầu riêng

Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây sầu riêng sinh trưởng phát triển từ 24-30oC. Dưới 22 và trên 40oC đều không thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển, ra hoa và đậu quả sầu riêng.

Nước đối với cây sầu riêng

Sầu riêng là cây ưa ẩm nhưng không được đọng nước. thích hợp vùng có lượng mưa khoảng 2.000mm/năm, có thể trên 3.000mm nhưng phân bổ đều trong năm. Sầu riêng đặc biệt yếu chịu hạn, vì vậy ở những nơi có mùa khô dài 4-5 tháng như vùng Đồng bằng sông Cửu long, phải tưới nước thường xuyên cho cây, nhất là vùng đất cao của các tỉnh miền Đông. Ở Bảo Lộc, Di Linh không những có nhiệt độ ổn định mà lượng mưa cũng nhiều, mùa khô ngắn chỉ 2-3 tháng nên thích hợp cho sầu riêng.

Gió đối với cây sầu riêng

Gió lớn, cây sầu riêng dễ bị bật gốc, gãy nhánh và rụng quả nhiều, ảnh hưởng đến năng suất của cây, vì vậy cần có đai rừng chắn gió cho vườn để giảm bớt thiệt hại do gió gây ra.

Yêu cầu ánh sáng với cây sầu riêng

Khi còn nhỏ cây sầu riêng không cần nhiều ánh sáng, thích bóng râm, vì ánh sáng nhiều làm cây dễ mất nước. Nhưng khi cây lớn thì lại cần nhiều ánh sáng để quang hợp, hình thành hoa quả thuận lợi và cho sản lượng cao.

Yêu cầu đất đối với cây sầu riêng

Cây sầu riêng thích hợp với đất thịt hoặc đất thịt pha cát, đất phù sa, đất đỏ bazan, không thích hợp với đất nhiều cát, đặc biệt là đất giồng cát. Đất cần giàu chất hữu cơ, tầng canh tác dày và thoát nước. Mực nước ngầm từ 1 - 1,2m. Nếu bị đọng nước rất hay bị bệnh thối rễ, đất thấp cần đào mương bồi đất, lên liếp cao. Độ pH của đất từ 5-7. Các vùng đất đỏ Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đất phù sa ven sông Tiền, sông Hậu là những nơi trồng sầu riêng thích hợp.

Yêu cầu chất dinh dưỡng đối với cây sầu riêng

Cây còn nhỏ cần nhiều đạm để sinh trưởng. Từ khi cây có quả cần nhiều lân, đặc biệt là Kali, để ra hoa tập trung và tăng chất lượng quả, giai đoạn quả trưởng thành và chín, bón đủ kali sẽ làm cho cơm có màu vàng đậm, vị ngọt hơn.

Trong thực tế thường bón thêm phân có Ca (canxi) và Mg (magie). Ca và Mg tăng cường sinh trưởng cây và chất lượng quả, nếu thiếu có thể làm “cơm” sầu riêng bị sượng.

Thị trường sầu riêng hiện nay.

-   Nguồn cung cấp sầu riêng từ sản xuất trong nước: Nguồn sầu riêng sản xuất trong nước cung cấp cho thị trường Nam Bộ chủ yếu từ các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, TP.HCM.

-   Nguồn cung cấp sầu riêng từ nước ngoài: Ngoài sản lượng sầu riêng sản xuất trong nước, hàng năm nước ta vẫn nhập một lượng khá lớn sầu riêng từ Thái Lan. Sản lượng sầu riêng nhập khẩu vào Việt Nam tiêu thụ hầu hết ở thị trường Nam Bộ và chủ yếu ở TP. HCM.

-    Chất lượng sầu riêng cung cấp cho thị trường Nam Bộ: Trên thị trường có nhiều giống, các giống sầu riêng có sản lượng khá lớn là: Khổ qua xanh, monthong, hạt lép Đồng Nai… Một số giống chất lượng cao như sầu riêng monthong, sầu riêng cơm vàng sữa hạt lép Chín Hóa, sầu riêng cơm vàng hạt lép Đồng Nai … đã và đang được người tiêu dùng ưa chuộng.

-    Giá bán sầu riêng biến động theo giống và theo mùa vụ. Sầu riêng khổ hoa xanh là giống lâu đời và được trồng nhiều nhất trên địa bàn nhưng lại có giá thấp nhất, trung bình  chỉ  15.539  đồng/kg, trong khi các giống hạt lép như Mongthon,  Ri 6, Chín Hoá có giá bán trung bình cao hơn hẳn (35.628  đồng/kg), tương đương gấp hơn 2 lần so với giống Khổ hoa. Giá bán sầu riêng giữa các nông hộ biến động lớn, càng gần với thời điểm chính vụ giá bán càng xuống thấp, chênh lệch giá bán cao nhất và thấp nhất khá nhiều. Đối với các giống hạt lép, giá cao nhất là 35.000 đồng/kg vào thời điểm trước và sau tết nguyên đán, trong khi vào chính vụ giá thấp nhất là 7.750 đồng/kg; đối với giống khổ hoa, giá bán cao nhất là 22.000 đồng/kg, còn thấp nhất chỉ 5.500 đồng/kg khi thu hoạch rộ. Giá bán của các giống sầu riêng đều có biên độ dao động lớn, tuy vậy ta có thể thấy là giá thấp nhất đối với các giống hạt lép vẫn cao hơn giá trung bình của giống khổ  hoa trong khi chi phí đầu tư giữa các giống không khác nhau nhiều.

       Quy trình mua bán sầu riêng  được tóm lược  như sau:  Nông hộ có vườn sầu riêng đến giai đoạn thu hoạch sẽ liên hệ để thương lượng giá cả và bán  cho  thương lái, sau đó thương lái sẽ tự thu hoạch và tập trung lại  để phân phối cho các tác nhân khác bao gồm các vựa ở địa phương và ngoại tỉnh, ngoài ra thương lái cũng chuyểnmột phần nhỏ đến  những người bán lẻ các tỉnh thành. Các vựa địa phương sau khi thu mua sầu riêng từ thương lái thì họ chuyển hầu hết lượng sầu riêng này cho các vựa sầu riêng ngoại tỉnh; còn các vựa ngoại tỉnh thu mua sầu riêng từ thương lái đường dài rồi cung cấp cho đối tượng bán lẻ khắp các tỉnh thành cả nước.  Quan hệ thanh toán khi mua bán ở các đối tượng chủ yếu bằng tiền mặt, đối  với các vựa sầu riêng thì hình thức thanh toán gối đầu hoặc kết hợp tiền mặt và gối đầu cả khi mua và khi bán cũng khá thường xuyên.Khó khăn  lớn  nhất đối với các  tác nhân  là giá cả sầu riêng biến động thất thường, dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh khá cao, kế đến là các khó khăn do cạnh tranh và thiếu vốn, ngoài ra, đối với các vựa sầu riêng  do bán sản phẩm đến các thị trường xa thông qua trung gian nên không có đủ thông tin về thị trường, với đối tượng bán lẻ thì các  khoản  mà đối tượng này đóng góp cho chợ cũng  gây khó khăn cho họ.

Một số định hướng và chính sách cho phát triển sầu riêng ở nước ta.

1. Quy hoạch vùng sản xuất.

       Cây sầu riêng sau trồng 4-5 năm mới cho quả và giai đoạn cho thu hoạch kéo dài khoảng 20 năm nên việc xác định vùng trồng phù hợp là hết sức quan trọng. Quy mô sản xuất ở mức độ nào phụ thuộc chủ yếu vào yêu cầu của thị trường: Thị trường trong nước và thị trường quốc tế, đồng thời phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất loại trái cây đặc sản của vùng nhiệt đới này. Dự báo trong vài chục năm tới thị trường của sản phẩm sầu riêng không giảm, thậm chí còn gia tăng, còn hiệu quả sản xuất được quyết định bởi các yếu tố công nghệ, chủ yếu là giống và kỹ thuật canh tác. Thực tiễn qua hàng trăm năm cho thấy, vùng trồng sầu riêng thích hợp nhất ở nước ta là vùng đất ven sông Tiền, sông Hậu, vùng đất đỏ bazan thuộc Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Vẫn còn các vùng đất thích hợp khác có thể khai thác để trồng sầu riêng, tuy nhiên trong quy hoạch cần tránh các vùng khô hạn kéo dài, vùng đất cát và vùng nhiều gió, lốc. Cần hình thành các vùng sản xuất tập trung để có sản phẩm hàng hóa lớn cho xuất khẩu và chế biến công nghiệp.

2. Giống sầu riêng.

-     Cần thay thế dần các giống địa phương bằng các giống hạt lép. Trong khi chờ các cơ quan khoa học tạo các giống năng suất, chất lượng cao, phù hợp với từng vùng sinh thái, có thể nhập các giống tốt từ nước ngoài, chủ yếu từ Thái Lan để phát triển. Ở đây cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước, hoặc Trung ương, hoặc địa phương. Có 2 hình thức cần hỗ trợ: cho chọn, tạo giống mới và hỗ trợ cây giống cho nông dân. Các giống nằm trong quy hoạch được hỗ trợ ít nhất 50% giá giống. Cũng với chính sách này, Thái Lan trong vòng 20 năm ( 1960-1980) đã thay thế hầu hết diện tích bằng các giống hạt lép đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.

-     Hoàn thiện công nghệ sản xuất cây giống bằng phương pháp ghép bao gồm: Xác định gốc ghép thích hợp cho mỗi giống mới, thành phần giá thể, chế độ chăm sóc trong vườn ươm... với mục đích năng cao chất lượng cây giống, đồng thời hạ giá thành, rút ngắn thời gian ươm cây.

3. Về kỹ thuật canh tác.

       Các cơ quan chuyên môn, các tổ chức khuyến nông cần giới  thiệu kỹ cho nông dân các giống sầu riêng tốt với những ưu điểm và tồn tại để người dân lựa chọn. Mỗi vườn nên trồng ít nhất 2 giống để cây bổ sung phấn cho nhau, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng chất lượng quả. Tập huấn kỹ cho các nhà vườn mật độ trồng với mỗi giống khác nhau, kỹ thuật cắt tỉa cành, kỹ thuật xử lý cây ra hoa trái vụ, phương pháp phòng trừ sâu bệnh, biện pháp canh tác an toàn... là những kiến thức phần lớn nông dân còn thiếu.

4. Công tác quản lý nhà nước tại các địa phương.

-     Quản lý chặt chẽ nguồn đầu vào cho sản xuất, nhất là cây giống và phân bón.

-     Tổ chức các hợp tác xã sản xuất sầu riêng để liên kết với các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, hỗ trợ tín dụng cho người cần vay vốn sản xuất và tìm đầu ra cho nông dân.

                                                                                                                                                                              GS. TS. Trần Khắc Thi

 

 TÀI LIỆU THAM KHẢO.

 1.Nguyễn Minh Châu. ( 1999). Kết quả điều tra bình tuyển giống sầu riêng. Báo cáo tại Hội nghị khoa học ngành trồng trọt. Đà Lạt, 1999.

2. Lê Thanh Phong, Võ Thanh Hoàng, Dương Minh (1994). Cây sầu riêng. NXB Nông nghiệp.

3. Huỳnh Văn Tấn, Nguyễn Minh Châu ( 2003). Kết quả bước đầu nghiên cứu về cây sầu riêng ở miền Nam Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ rau quả 2001-2002. NXN Nông nghiệp. TP. Hồ Chí Minh.

4. Trần Thế Tục, Chu Doãn Thành. (2005). Cây sầu riêng ở Việt Nam. NXB Nông nghiêp.