1.1. Nguồn gốc, vùng phân bố cây Mắc ca trên thế giới

          1.1.1. Nguồn gốc cây Mắc ca

          Cây Mắc ca có nguồn gốc là cây hoang dại ở vùng rừng mưa nhiệt đới ven biển Đông Nam bang Queensland và miền Bắc bang New South Wales nước Úc, trong phạm vi 250 – 310 vĩ độ nam của Australia [1].

          Vào năm 1857, nhà thực vật học nổi tiếng của Australia là B.F. Von Mueller và nhà thực vật học Scotlen là Walter Hill đã phát hiện loài cây này trong rừng cây bụi ở gần sông Pine của vịnh Moreton của Queensland và đặt tên là cây quả khô Australia ba lá (Macadamia ternifolia F.Mueler), xếp cây này vào một chi mới với tên chi là Macadamia thuộc họ Chẹo thui (Proteaceae) để kỷ niệm người bạn của ông tên là John Macadam.

          Năm 1858, Hill là người đầu tiên trồng thành công cây này ở ven sông Brisbane. Khoảng năm 1888, Charles Staff đã trồng 250 cây Mắc ca vỏ trơn trên diện tích 1,2 ha tại Rous Mill gần Lismore của bang New South Wales của Australia. Đó là vườn quả Mắc ca thương phẩm đầu tiên trên thế giới, mà đến nay vẫn tồn tại với tuổi đời hơn 100 năm.

          1.1.2. Vùng phân bố phát triển của cây Mắc ca

          Australia là quê hương gốc của cây Mắc ca, nhưng mãi đến thập niên 60 của thế kỷ 20 mới được sản xuất thương mại hóa, đến năm 1980 diện tích trồng Mắc ca đạt 2.830 ha, sản lượng 1.205 tấn. Nhưng sau đó từ năm 1997 thì diện tích Mắc ca ở Australia đứng đầu thế giới cho đến nay [5].

          Trong khi đó từ rất sớm, khoảng năm 1881 Purvis đã đưa cây Mắc ca từ Australia du nhập vào Hawaii của nước Mỹ. Đến thập niên 40 của thế kỷ 20, Hawaii đã khai phá một kỷ nguyên mới về phát triển sản xuất Mắc ca thương phẩm trên diện tích lớn. Cụ thể, năm 1960 diện tích Mắc ca ở Hawaii đạt 1.000 ha, sản lượng đạt 1.326 tấn; đến năm 1980 diện tích tăng đến 5.750 ha với sản lượng hạt khoảng 1,53 vạn tấn, chiếm trên 90% sản lượng toàn thế giới. Ở Hawaii, nghề sản xuất Mắc ca đứng thứ 3 chỉ sau nghề trồng dứa và mía [5].

          Nam Phi là nước phát triển cây Mắc ca muộn hơn Hawaii, nhưng đến năm 2006 đã vươn lên đứng hàng thứ 2 chỉ sau Australia với diện tích 8.579 ha, sản lượng hạt đạt 16.500 tấn.

          Từ thập niên 80 của thế kỷ 20, sản xuất Mắc ca bắt đầu phát triển nhanh trên phạm vi toàn cầu. Năm 1980, tổng diện tích đạt 2,185 vạn ha, sản lượng hạt đạt 2,81 vạn tấn. Đến năm 1997, tổng diện tích đạt 4,6 vạn ha, sản lượng hạt đạt 6,17 vạn tấn, trong đó 7 nước sản xuất nhiều nhất là: Australia (9.020 ha), Mỹ (8.215 ha), Braxin (6.300 ha), Kenya (6.050 ha), Costarica (6.000 ha), Nam phi (4.500 ha) và Goatemala (3.200 ha) [5].

          Sau đó một số nước châu Phi (Zimbabue, Tanzania), châu Á (Malayxia, Indonexia, Thái Lan, Xrilanca, Việt Nam) và châu Mỹ (Peru, Mexico) cũng bắt đầu trồng khảo nghiệm và phát triển Mắc ca.

          Đặc biệt Trung Quốc tuy bắt đầu muộn (vào thập niên 70 của thế kỷ 20) nhưng cũng đã có nhiều kết quả trong nghiên cứu và phát triển cây Mắc ca và đã trồng được diện tích hơn 2.000 ha ở vùng Hoa Nam, chủ yếu là ở Vân Nam và Quảng Tây [5].

          Như vậy có thể thấy cây Mắc ca phân bố tự nhiên ở một vùng rất nhỏ của Australia, nhưng chỉ trong vòng 150 năm sau đã được thuần hóa trở thành cây trồng được con người đưa đến những vùng phân bố mới khắp các châu lục (trừ châu Âu). Tuy nhiên, do những đặc điểm về sinh thái, sinh lý của loài cây này, không phải tất cả các vùng được đưa đến đều có thể trồng cây Mắc ca trên toàn bộ diện tích của vùng đó. Vấn đề này sẽ được đề cập đến ở những phần sau của tài liệu này.

 1.2. Giá trị dinh dưỡng và sinh thái của cây Mắc ca

          1.2.1. Các sản phẩm từ Mắc ca trên thị trường thế giới

Mắc ca là loại quả khô, mỗi quả chỉ có 1 hạt, vỏ hạt rất cứng sau khi bóc tách sẽ lấy được nhân hạt. Nhân hạt Mắc ca là bộ phận có giá trị nhất, rất bổ dưỡng, ăn có vị bùi, béo ngậy, thơm mùi bơ, rất ngon miệng. Vì các ưu điểm của nhân hạt như vậy nên được sử dụng nhiều trong ngành chế biến (Sơ đồ 1) [13] như:

- Ăn tươi hoặc ở dạng hạt sấy đóng gói hoặc đóng hộp.

- Rang với muối hoặc đường, mật ong hoặc các loại gia vị khác nhau,...

- Làm nhân sôcôla, bánh, kẹo, kem ăn, nước uống...

- Sử dụng làm thực phẩm chức năng cho bệnh tim mạch.

- Dầu Mắc ca được dùng nhiều làm dầu ăn, dầu salat, dầu dưỡng da, dầu dược liệu, mỹ phẩm...[13].

Ngoài ra, phụ phẩm của quả Mắc ca có nhiều công dụng, trong vỏ quả chứa 14% tanin dùng để thuộc da, 8-10% protit có thể nghiền trộn làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi, vỏ hạt có thể dùng làm than hoạt tính, làm chất đốt, làm phân bón và nghiền vụn dùng làm giá thể để ươm cây giống... Gỗ Mắc ca có vân thớ đẹp, sử dụng làm đồ thủ công mỹ nghệ  [5].

          Ở Việt Nam nhiều tác giả đề xuất dùng nhân Mắc ca để thổi xôi, nấu chè, làm nhân bánh dẻo, bánh nướng và nhiều món ăn cổ truyền dân tộc khác tạo thêm sức hấp dẫn cho các món văn hóa ẩm thực truyền thống của Việt Nam.

                           

Sơ đồ 1: Chuỗi sản phẩm của hạt Mắc ca

1.2.2. Giá trị dinh dưỡng

     Hạt Mắc ca có hàm lượng dinh dưỡng cao, kết quả phân tích được thể hiện ở bảng 1. Đặc biệt là hàm lượng calo, chất béo và chất béo không no là cao nhất trong tất cả các loại quả ăn được (xem biểu đồ 2) [2].

Nếu so sánh với hàm lượng chất béo của lạc nhân là 44,8%, của hạt điều 47%, hạnh nhân 51%, hạt hạnh đào 63% thì hàm lượng chất béo 78,2% trong nhân Mắc ca rõ ràng là cao hơn rất nhiều. Trong đó đáng chú ý là hàm lượng axit béo không no trong dầu Mắc ca lên tới 84%, đây là thứ chất béo mà thế giới hiện đại rất coi trọng vì ít dẫn tới nguy cơ tích tụ cholesteron trong cơ thể người và rất phù hợp làm dung môi trong mỹ phẩm [5].

Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng trong nhân hạt Mắc ca

(theo Wenkham & Miller, 1965)

Thành phần

Hàm lượng trong 100g phần ăn được

Nước (g)

1,50-2,50

Chất béo (g)

78,20

Hydrat cacbon (g)

10,00

Protit (g)

9,20

K (g)

0,37

P (g)

0,17

Mg (g)

0,12

Ca (mg)

36,00

S (mg)

6,60

Fe (mg)

1,80

Zn (mg)

1,40

Mn (mg)

0,38

Cu (mg)

0,33

Axit nicotic (mg)

1,60

Vitamin B1

0,22

Vitamin B2

0,12

Hàm lượng protein trong nhân có tới 9,2% gồm 20 loại axit amin, trong đó có 8 loại cho cơ thể con người không tự tổng hợp được. Ngoài ra trong nhân Mắc ca còn chứa nhiều loại Vitamin và các chất vi lượng khác rất cần thiết cho cơ thể người. Vì vậy hạt Mắc ca rất bổ dưỡng, cung cấp đầy đủ các chất thiết yếu hàng ngày trong khẩu phần dinh dưỡng cho con người [5]. 

 

 Biểu đồ 2: Lượng calo (kcal/100 gam hạt - hình trái) và chất béo không no (gam/100 gam hạt) của hạt Mắc ca so với các loại quả có hạt khác

1.2.3. Giá trị sinh thái môi trường của việc trồng Mắc ca

          Cây Mắc ca là loài cây thân gỗ, trong rừng tự nhiên cao tới 20m, tán lá rộng 15m, lá  rậm thường xanh không rụng theo mùa nên được coi là cây lâm nghiệp có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ đất, góp phần vào việc giảm thiểu phát thải CO2 chống biến đổi khí hậu.

          Cây Mắc ca có tuổi thọ rất cao, cây trên 100 tuổi vẫn phát triển bình thường, tuổi thọ kinh tế cũng đạt 40 – 60 năm. Vì vậy cây Mắc ca đạt được tiêu chí về đời sống lâu dài để trồng rừng phòng hộ hoàn toàn phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đối với vùng miền núi.

          Lá cây Mắc ca xanh đậm và bóng, có loài có viền răng cưa, hoa cực kỳ nhiều, hoa tự chùm bông đuôi sóc rất đẹp, có màu trắng muốt hoặc tím hồng, mùa hoa kéo dài gần 2 tháng, hương thơm ngào ngạt, nên có thể kết hợp nuôi ong và dùng làm cây trồng ở công viên, lâm viên, tạo phong cảnh đô thị và cải tạo môi trường sinh thái, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm khói bụi đang là vấn nạn ở nhiều thành phố lớn.

1.3. Hiệu quả kinh tế nghề trồng và chế biến Mắc ca của một số nước tiêu biểu

          + Ở Australia:

Hạch toán kinh tế ở vườn quả sử dụng giống 246, mật độ trồng 200-265 cây/ha, cây giống là cây ghép có giá 5-8 đô la Úc/cây. Vào thời kỳ ra hoa, đậu quả có tưới nước. Bón phân cây 1 tuổi 450g NPK/cây (N:P:K 10:2:17), khi cây lớn hàng năm bón 5kg/cây chia ra 2 lần/năm [11].

          Vốn đầu tư ban đầu cho Mắc ca là tốn kém. Mua 20 ha đất và đầu tư hình thành vườn cây cần từ 240.000 USD, gồm tiền đất 61.000 USD, kinh phí chuẩn bị đất 12.000 USD, tiền giống 960USD/ha, tiền thủy lợi 1.500USD/ha, kho tàng tốn 6.000 USD, chi phí máy kéo và các thiết bị khác 12.000 USD.  Nên 10 năm đầu còn lỗ, từ năm thứ 12 trở đi mới có lãi và tăng cao dần (xem bảng 2).[11].

       + Ở Trung quốc. Ở nông trường Hoa Sơn (Quảng Tây) hạch toán đầu tư trồng Mắc ca thể hiện trong bảng 4. Đầu tư lũy kế trong 6 năm đầu hết 3.450 USD/ha, bắt đầu từ năm thứ 7 thu lợi được 892 USD/ha và tăng dần ở các năm sau.

 Hiệu quả kinh tế của ngành chế biến Mắc ca trên thế giới

Thông tin về hiệu quả kinh tế của ngành chế biến Mắc ca trên thế giới không có nhiều. Tuy nhiên, qua sơ bộ tính toán cho thấy sản lượng hạt bình quân 1ha Mắc ca đạt 3 tấn,với giá bán như hiện nay 3,5 USD/kg hạt, 1 ha Mắc ca có thu nhập tới 10.000 USD.  Từ hạt Mắc ca thông qua chế biến đóng gói nhân Mắc ca với giá bán hiện nay khoảng 15 - 18 USD/kg nhân, tức là giá trị đã tăng lên hơn 4 - 5 lần.

 Theo ý kiến nhiều chuyên gia, nếu sản xuất thức ăn như các loại bánh kẹo, đồ hộp,… giá trị có thể gấp 3 lần của nhân và trong sản xuất mỹ phẩm giá trị tăng lên gần 20 lần, tương đương 280 USD/kg  [14].

Ví dụ trên trang bán hàng trực tuyến của Alola.vn một số sản phẩm được giao bán như trong bảng 5.

Bảng 2- Giá một số sản phẩm mỹ phẩm có nguồn gốc từ Mắc ca

Tên sản phẩm

Thể tích

Giá bán

Dầu gội Mắc ca

1000 ml

855.000 đ

Dầu xả Mắc ca dưỡng ẩm

1000 ml

935.000 đ

Kem hấp tóc Mắc ca

250 ml

519.000 đ

Kem xả khô Mắc ca

300 ml

489.000 đ

Tinh dầu Mắc ca

125 ml

829.000 đ

Chỉ riêng tinh dầu tự nhiên Mắc ca của công ty này trong năm 2011 doanh thu đạt hơn 100 triệu USD từ kênh bán lẻ trên toàn thế giới [56].

2.1. Đặc điểm sinh học của cây Mắc ca

Mắc ca là loài cây thân gỗ nên việc phát triển cành là một đặc điểm chung của các loài cây gỗ. Trong một năm, cành Mắc ca có 3 hoặc 4 lần ra lộc, bình quân mỗi lần ra lộc kể từ khi ra chồi đến khi thành thục cần 40 ngày. Với cây đã ra quả, một năm ra lộc 3 lần thì mùa cao điểm ra lộc xuân vào tháng 4, ra lộc hè vào cuối tháng 6 và ra lộc thu vào cuối tháng 10. Ngoài ra, hàng tháng trong năm, trên tán cây vẫn lẻ tẻ ra lộc. Vào mùa hè, thời tiết nóng, cây Mắc ca sinh trưởng chậm, với giống yêu cầu khí hậu mát như 508, 344 thì lộc non ra vào thời kỳ này thường bị khô, xuất hiện hiện tượng bệnh sinh lý, lá chuyển vàng hoặc trắng nhạt.Vào cuối tháng 12 đến tháng 2 năm sau, trong những năm bình thường sẽ không có hiện tượng đâm chồi nảy lộc. Cành của Mắc ca dài trung bình từ 30 – 50cm, có 7 – 10 mắt. Với cây Mắc ca đã cho quả, phần lớn cành có quả là những cành thành thục có tuổi 1,5 – 3 năm và phát triển từ khuôn trong của tán. Như vậy, khác với nhiều loài cây ăn quả khác như nhãn, vải, xoài…cây Mắc ca ra quả bên trong tán cây chứ không mọc ở đầu cành  [12].

Hoa của Mắc ca phát dục qua 3 thời kỳ: thời kỳ hình thành mầm hoa, thời kỳ vươn dài của hoa và thời kỳ nở hoa. Sau khi phân hóa mầm hoa đến khi mầm hoa lớn tới mức mắt nhìn thấy được, tùy từng vùng khác nhau thời kỳ này biến động từ 50 – 96 ngày. Sau đó hoa tự bắt đầu vươn dài, ở vùng mát hoa tự bắt đầu vươn dài sớm nhất, kéo dài khoảng 60 ngày. Thời điểm nở hoa sau khi phân hóa mầm hoa thường là 136 – 153 ngày. Ở Trạm Giang (Trung Quốc) thời điểm nở hoa bắt đầu vào hạ tuần tháng 2, ra hoa rộ vào giữa tháng 3, hoa tàn vào đầu tháng 4. Pha vật hậu ra hoa ở Trạm Giang chênh lệch với Nam Ninh (Quảng Tây) khoảng 10 – 15 ngày. Những giống khác nhau, thời vụ nở hoa cũng khác nhau, chẳng hạn giống 695 thường ra hoa chậm hơn giống khác, vào trung hạ tuần tháng 3 mới bắt đầu ra hoa, cuối tháng 3 đến đầu tháng 4 mới ra hoa rộ và giữa tháng 4 hoa mới bắt đầu tàn. Đây cũng là một đặc điểm đáng chú ý để bố trí giống rải vụ cho thu hoạch sẽ có lợi về mặt dàn trải nhân lực và thời gian cung cấp nguyên liệu đầu vào khi chế biến.

Phần lớn cây Mắc ca đậu quả nhờ tự thụ phấn, nhưng nhị và nhụy chín so le, ngoài ra còn có hiện tượng tự thụ bất dục ở mức độ đáng kể, vì vậy khi trồng nên bố trí trồng hỗn hợp từ 2 giống trở lên năng suất quả sẽ cao hơn. Mặt khác, ở vườn Mắc ca cần phát triển nuôi ong mật giúp truyền phấn sẽ tăng tỷ lệ đậu quả.

Sau khi hạt phấn đã nảy mầm trên vòi nhụy, phôi châu của quả Mắc ca được thụ tinh, thường phôi châu thứ hai trong bầu nhị bị ức chế nên bất dục. Trường hợp này quả Mắc ca sẽ chỉ có 1 hạt hình tròn. Nhưng cũng có rất ít trường hợp cả 2 phôi châu đều thụ tinh, khi đó một quả sẽ có 2 hạt hình bán cầu.

Trong thời kỳ ra hoa kết quả, tỷ lệ đậu quả của Mắc ca rất thấp, đó là đặc điểm di truyền và cũng là nhược điểm lớn nhất của cây Mắc ca. Một cây 15 tuổi, cứ mỗi kỳ ra hoa có thể tới 1 vạn hoa tự, mỗi hoa tự lại có đến 300 hoa nhỏ, nghĩa là một cây có thể có đến 3 triệu bông hoa, nhưng chỉ có 6 – 13% hoa được thụ tinh, mà kết quả cuối cùng cũng chỉ có 0,3 – 0,4% hoa phát dục thành quả thành thục, có nghĩa là một cây Mắc ca có 3 triệu hoa chỉ có khả năng đậu được khoảng 10.000 – 12.000 quả và số quả cuối cùng thực thu hoạch được còn ít hơn nữa.[12].

 Nguyên nhân chính gây rụng hoa rụng quả ở cây Mắc ca là vấn đề dinh dưỡng và điều kiện thời tiết. Khi ra hoa, cây cần nhiều đạm, lân và kali làm cho hàm lượng N, P2O5 , K2O trong lá giảm, lúc này xuất hiện mức rụng quả cao điểm đầu tiên. Vào cuối tháng 6, bắt đầu ra nhiều lộc hè, quả bước vào thời kỳ tích lũy nhanh về dầu, nhu cầu dinh dưỡng của quả lên tới đỉnh cao, làm cho hàm lượng N, P2O5, K2O trong lá vào tháng 7 giảm sút, lúc đó lại xuất hiện mức rụng quả cao điểm lần thứ hai. [12].

Ngoài hiện tượng rụng quả sinh lý do thiếu hụt chất dinh dưỡng như nói trên, điều kiện thời tiết trong thời kỳ ra hoa kết quả cũng là tác nhân lớn. Khi nhiệt độ tăng cao, tỷ lệ rụng quả trước khi chín cũng tương đối cao. Sau khi đậu quả 70 ngày, nếu nhiệt độ cao tới 300 – 350C sẽ kích thích hiện tượng rụng quả chưa chín. Độ ẩm cũng làm trầm trọng thêm hiện tượng rụng quả trong môi trường nhiệt độ tăng cao, đặc biệt là thời kỳ đầu của đậu quả 35 – 41 ngày. Cây thiếu nước trong thời kỳ ra hoa kết quả cũng gây rụng quả nhiều.[19].

          2.2. Yêu cầu về điều kiện khí hậu của cây Mắc ca

+ Nhiệt độ và độ ẩm không khí:

          Trong khi các yếu tố như đất đai, mưa, gió… con người có thể tác động bằng các biện pháp kỹ thuật khác nhau như bón phân, tưới nước, trồng rừng chắn gió… thì đối với yếu tố nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí, hầu như con người chưa thể can thiệp được ở một vùng rộng lớn (trừ trồng cây trong nhà kính). Nhưng đây lại là 2 yếu tố tiên quyết sẽ quyết định đến việc cây Mắc ca có thể ra hoa, kết quả được hay không  tại một vùng cụ thể nào đó và cũng chính là nguyên nhân chủ yếu hạn chế việc mở rộng khu vực trồng trên thế giới.

          Mắc ca là loài cây ăn quả á nhiệt đới, việc phân hóa mầm hoa đòi hỏi sự kích thích của nhiệt độ thấp. Trong thời kỳ này cần điều kiện nhiệt độ tối ưu là dưới 170C kéo dài 4 – 5 tuần, nếu nhiệt độ cao hơn 170C thì ra hoa ít, trên 200C ra hoa rất ít và trên 250C không ra hoa [5].

          Mắc ca rất nhạy cảm với độ ẩm không khí vào thời kỳ ra hoa, đậu quả. Nếu ra hoa gặp độ ẩm không khí cao, hoa sẽ rụng rất nhiều. Vì vậy ở những vùng có mưa phùn kéo dài nhiều ngày từ tháng 2 đến tháng 4 sẽ không mong có được năng suất quả cao, thậm chí hoa bị rụng hoàn toàn vào những năm ẩm ướt nhiều trong vụ xuân.[5].

          Ngoài thời kỳ nở hoa, đậu quả ra, còn lại chế độ nhiệt lý tưởng để Mắc ca sinh trưởng là nhiệt độ bình quân năm 220 – 230C, nhiệt độ bình quân mùa hè khoảng 250C, cao nhất không quá 380C.

          Mắc ca có sức chịu rét tốt, có thể chịu được nhiệt độ thấp tới -50C trong thời gian ngắn và có thể chịu được sương giá khoảng 20 ngày.[5].

+ Lượng mưa:                                                           

Nhìn chung cây Mắc ca cần lượng mưa hàng năm trên 1.200mm, tốt nhất là phân bố đều trong năm. Tuy nhiên, cây Mắc ca cũng có thể chịu hạn ở mức độ nhất định ngoại trừ thời kỳ ra hoa, đậu quả, vì vậy ở những nơi có điều kiện cần tưới nước cho cây vào thời kỳ này. Còn những nơi do thiếu nguồn nước hoặc do địa hình không thể tưới nước thì cần áp dụng các biện pháp như che tủ mặt đất, xới xáo đất, sử dụng chế phẩm ngậm nước bón vào gốc cây…[5].

+ Gió:

Cây Mắc ca có hệ rễ cọc kém phát triển, rễ chùm lớn, phạm vi phân bố rễ chỉ cách mặt đất khoảng 70cm trở lại. Có tới 70% bộ rễ phân bố tập trung ở tầng đất từ 0 – 30 cm, nên cây Mắc ca chống chịu gió lớn và bão rất kém, thường gẫy đổ hoặc rụng hoa quả nhiều. Vì vậy không nên trồng Mắc ca ở vùng ven biển [5].

Ngoài ra, trong thời kỳ quả phát dục ban đầu, nếu có gió khô, nóng xuất hiện càng làm rụng quả nhiều, nên ở những nơi bị ảnh hưởng của gió Lào cần lưu ý về việc này. [5].

2.3.. Yêu cầu về điều kiện đất đai và dinh dưỡng của cây Mắc ca

          Mắc ca không kén đất, cây có thể sống được trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên là loài cây ăn quả nên để có năng suất và chất lượng quả cao, tốt nhất là đất có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, giàu chất hữu cơ. Tầng đất màu phải đạt 0,5 – 1m, tơi xốp, không đọng nước, pH=5 – 5,5. Trên đất nhiễm mặn, đất phèn, úng nước Mắc ca khó phát triển.

          Mắc ca rất nhạy cảm với các nguyên tố dinh dưỡng. Đất thiếu P hoặc quá giàu P hoặc bón nhiều phân lân quá, cây bị ngộ độc, lá vàng úa. Đất nhiều Mg cũng gây vàng lá, cây phát triển kém, năng suất thấp, nhưng lại không ảnh hưởng đối với cây non.[3].

          Qua nhiều năm nghiên cứu, các tác giả Australia đã đề xuất mức dinh dưỡng trong đất phù hợp nhất cho vườn cây Mắc ca (xem bảng 6).

Bảng 3. Chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất của vườn Mắc ca

           (theo Paul O’Hare…1996)

Chủng loại

Cách chiết suất

Mức độ cần đạt

pH

1: 5 đất : nước

1 : 5 CaCl2

5,0 – 5,5

4,5 – 5,0

Cac bon hữu cơ

Walkley-Black

>2%

Đạm nitrat

1: 5 chiết suất có nước

>15mg/kg

Sulphat lưu huỳnh

Chiết suất phốt phát

>20mg/kg

Lân

Phương pháp Colwell

Phương pháp Baray

60 – 100mg/kg

30 – 50mg/kg

Kali

Trao đổi

>0,5meq/100kg

Can xi

Trao đổi

>0,5meq/100kg

Manhê

Trao đổi

>1,6meq/100kg

Natri

Trao đổi

<5% cation có thể trao đổi

Nhôm

Trao đổi

<5% cation có thể trao đổi

Clo

1: 5 Chiết suất có nước

<200mg/kg

Dẫn xuất

1: 5 Chiết suất có nước

<0,5mS/cm

Đồng

Chiết suất DTPA

0,3 – 10mg/kg

Kẽm

Chiết suất DTPA

2 – 10mg/kg

Măng-gan

Chiết suất DTPA

4 – 40mg/kg

Sắt

Chiết suất DTPA

>4mg/kg

Bo

Clorua canxi nóng

1 – 2mg/kg

 3.1. Thực trạng và triển vọng trồng, chế biến Mắc ca ở Việt Nam

 Lịch sử phát triển cây Măc ca ở Việt Nam

10 cây Mắc ca đầu tiên đã được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng  thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam gieo từ hạt và trồng thử tại Ba Vì (Hà Nội) vào năm 1994, đến năm 1999 một số cây bắt đầu cho quả, năm 2010 có 2 cây đã đạt 10 kg quả/cây/năm và năm 2013 đạt 20 kg/cây [6].

Năm 2003, Australia đã tặng nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn 100 cây ghép thuộc 4 dòng và 500kg hạt Mắc ca, Phó Thủ tướng đã giao cho Công ty CP XNK nông lâm sản chế biến trồng tại Ba Vì (Hà Nội).

Năm 2002 - 2003 một số đơn vị  nhập giống Mắc ca trồng thử nghiệm ở Con Cuông (Nghệ An), Tràng Định (Lạng Sơn), Xí nghiệp giống cây lâm nghiệp Lạng Sơn. Năm 2006 tại Lâm trường Con Cuông (Nghệ An) trồng 41 cây dòng OC sau 4 năm 35 cây đã cho quả, 36 cây H7 có 5 cây đã cho quả và 6 cây H2 có 4 cây đã cho quả [6].

Thực hiện đề tài “Khảo nghiệm giống và nhân giống sinh dưỡng Mắc ca ở Việt Nam” giai đoạn 2002 - 2005, đầu năm 2002 Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam nhập thêm 9 dòng sai quả bằng cây ghép của Úc bao gồm các dòng: 246; 344; 741; 294; 816; 849; 856; NG8, Dadow và 2 dòng của Trung Quốc là OC, A800. Đây là nguồn giống quan trọng để tiếp tục công tác cải thiện giống Mắc ca ở nước ta. Ở giai đoạn này Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã trồng khảo nghiệm được 8,0 ha dòng vô tính Mắc ca tại 7 địa điểm là Ba Vì (Hà Nội); Uông Bí (Quảng Ninh); Mai Sơn (Sơn La); Đồng Hới (Quảng Bình); Krông Năng (Đắc Lắc); Đắc Plao (Đắc Nông); Đại Lải (Vĩnh Phúc) [6].

Năm 2003 Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã nhập 70 kg hạt gieo ươm cây con làm gốc ghép và năm 2005 nhập được 100 kg hạt Mắc ca của 2 giống sai quả phục vụ cho trồng khảo nghiệm hậu thế chọn cá thể sai quả ở giai đoạn tiếp theo [6].

Năm 2005 Công ty VINAMACCA tham gia và thực hiện dự án CARD (mã số 037/VIE/05) do Chính phủ Úc phối hợp cùng Bộ Nông Nghiệp & PTNT tài trợ. Thông qua dự án, Chính phủ Úc cung cấp nguồn giống Mắc ca (10 dòng: 816, 849, 842, 814, 246, 344, 741, A4, A38 và A16) để làm mẫu cây đầu dòng. Bên cạnh đó, Công ty còn nhập 13 dòng khác từ các nước Trung Quốc, Thái Lan, Hawai (Mỹ), gồm các dòng: OC, 800, 788, 508, QN1, Dadow, 660, A268,...[4].

Từ nguồn giống hợp tác và các dòng nhập khác, đến nay Công ty đã xây dựng được vườn cây đầu dòng với diện tích 0,3 ha và 02 vườn ươm quy mô 150.000 cây/năm tại huyện Yên Thủy - tỉnh Hòa Bình và huyện Krông Năng - tỉnh Đắk Lắc để phát triển giống. Từ năm 2010 đến nay, Công ty sản xuất bình quân mỗi năm khoảng 70.000 -80.000 cây con (cây ghép) phục vụ phát triển trên toàn quốc. Các cây đầu dòng sau 3 năm đã cho quả với năng suất khá (1,5-3,5 kg/cây) [4].

Cùng với việc cung cấp giống, Công ty còn cung cấp hướng dẫn kỹ thuật, phổ biến, tư vấn về trồng, chăm sóc,..cây Mắc ca cho nhiều hộ dân mua giống cũng như có ý định đầu tư trồng Mắc ca.

Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên bắt đầu những nghiên cứu về cây Mắc ca từ năm 2002. Trong năm 2002, Viện đã tiến hành trồng thử nghiệm 1 ha Mắc ca, giống cây chiết cành có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hiện tại vườn cây sinh trưởng tốt và đã cho quả được 3 vụ. Từ vườn tập đoàn giống có nguồn gốc Trung Quốc, Viện đã chọn ra được 3 dòng có triển vọng là H2, OC và 508, và tiếp tục mở rộng diện tích khảo nghiệm 3 dòng này để tiếp tục theo dõi, đánh giá [7].

Song song với việc đánh giá tập đoàn từ cây vô tính, Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên còn tiến hành nghiên cứu chọn lọc cây trội Mắc ca từ vườn tập đoàn trồng bằng hạt. Các thí nghiệm chọn lọc cây trội được tiến hành trên 2 vùng là: Buôn Ma Thuột - Đắc Lắc và Iakrai - Gia lai. Trong quá trình theo dõi cho thấy, với điều kiện Tây Nguyên, cây thực sinh đã sinh trưởng tốt và cho quả sau 4 năm trồng. Hiện tại đã chọn được 6 cá thể trội từ vườn thực sinh cho năng suất từ 2,5 - 5kg hạt/cây/năm sau 5 năm trồng. 

Năm 2008, Dự án ” tăng cường năng lực ngành giống lâm nghiệp Việt Nam” do Chính phủ Đan Mạch tài trợ đã hỗ trợ xây dựng một vườn giống vô tính Mắc ca trên diện tích 2 ha tại Trung tâm sản xuất giống Ba Vì (Hà Nội) với 9 dòng có triển vọng nhất.

Sau khi Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận một số giống Mắc ca mới, Dự án: “Xây dựng mô hình trồng thâm canh cây Mắc ca tại Tây Bắc và Tây Nguyên”  giai đoạn 2012-2014, do Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông lâm sản chế biến thực hiện đã được triển khai. Dự án thuộc chương trình khuyến nông Trung ương, giai đoạn 2012-2014, thực hiện theo Quyết định số 3124/QĐ-BNN-KHCN ngày 19/12/2011 về việc Phê duyệt danh mục chương trình, dự án khuyến nông Trung ương giai đoạn 2012-2005 của Bộ NN&PTNT. Quy mô vốn dự án là 14,444 tỷ đồng, vốn 100% thuộc ngân sách. Mục tiêu tổng quát của Dự án là xây dựng được các mô hình sử dụng giống Mắc ca ghép có năng suất cao, các giống đã được công nhận sinh trưởng phát triển tốt, phù hợp với vùng Tây Bắc và Tây Nguyên. Mục tiêu cụ thể là: (1) Xây dựng được 465,4 ha mô hình trồng thâm canh cây Mắc ca (338 ha thuần loài, 127 ha xen canh) trên 10 tỉnh Tây Bắc và Tây Nguyên, đảm bảo tỷ lệ sống trên 95%, cho năng suất cuối năm thứ 3 đạt tối thiểu 100 kg/ha; (2) Đào tạo tập huấn mô hình cho những hộ tham gia trồng cây Mắc ca cho 1.000 lượt người/40 lớp; (3) Đào tạo nhân rộng và tham quan cho khoảng 900 người/30 lớp và (4) Tài liệu hóa 10 bài tài liệu thông tin tuyên truyền cho 10 tỉnh, mỗi tỉnh 5 lượt phát trên chuyên mục thông tin đại chúng và 90 bảng Pa nô [10].

Cùng với hoạt động nghiên cứu, phát triển, trong các năm qua cũng có một số sách và bài viết về cây Mắc ca và kỹ thuật trồng cây này, trong đó có quyển ”Cây Mắc ca- cây quả khô quý hiếm, dự báo khả năng phát triển ở các vùng miền núi Việt Nam” (NXB Nông nghiệp, 2003) và cuốn “kỹ thuật trồng cây Mắc ca ở Việt Nam (NXB Nông nghiệp, 2005) do Nguyễn Công Tạn biên soạn, quyển “Trồng cây Mắc ca ở Australia” do Lê Đình Khả dịch (NXB Nông nghiệp, 2003), và quyển " Ngành công nghiệp Mắc ca trên thế giới và những bài học cho Việt Nam" của Hoàng Hòe đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiểu biết về loài cây này.

Vài ba năm trở lại đây do công tác thông tin tuyên truyền về cây Mắc ca tương đối rộng rãi và kết quả khả quan của một số mô hình thực tế ở các địa phương, nên các hộ dân và công ty bắt đầu quan tâm đầu tư vào việc trồng Mắc ca ở nước ta, Ví dụ ở vùng Tây Nguyên, có Công ty Nữ hoàng Mắc ca đầu tư dự án 1000 ha, ở vùng Tây Bắc có Công ty Mắc ca Điện Biên đầu tư dự án 4000 ha...

Như vậy có thể thấy quá trình du nhập, thử nghiệm và phát triển các dòng Mắc ca vào Việt Nam tính từ 1994 đến nay mới được tròn 20 năm, trong khi cây Mắc ca là một loài cây gỗ có tuổi đời rất dài và việc gây trồng đòi hỏi kỹ thuật nghiêm ngặt, nên có thể đánh giá Việt Nam tuy vào cuộc muộn hơn một số nước khác, nhưng đã có bước đi khá nhanh chóng thể hiện là đã có 10 giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận đưa vào sản xuất ở những vùng phù hợp và đã cơ bản xác định được các vùng trồng Mắc ca thích hợp ở nước ta, đồng thời sự vào cuộc của người dân và doanh nghiệp bắt đầu khởi sắc.

. Hiện trạng gây trồng Mắc ca ở Việt Nam

Diện tích Mắc ca ở Việt Nam từ năm 2000 tăng dần theo thời gian, đến nay tổng diện tích đạt khoảng 2.000 ha trồng tập trung. Trong đó, diện tích cây trên 6 tuổi chỉ chiếm khoảng 2% với chủ yếu là vườn thử nghiệm của các đề tài, dự án. Số còn lại tập trung vào 1-3 năm gần đây khi người dân thấy hiệu quả kinh tế cao. Do đó sản lượng đến nay là không đáng kể.

Theo kết quả điều tra của nhóm xây dựng đề án quy hoạch phát triển Mắc ca vùng Tây Nguyên của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (thuộc Tổng cục Lâm nghiệp), diện tích trồng cây Mắc ca ở 5 tỉnh vùng Tây Nguyên đến tháng 9/2016 khoảng 1.630 ha, gồm Kon Tum 50 ha, Gia Lai 80 ha, Đắk Lắk 500 ha, Đắk Nông 600 ha và Lâm Đồng 400 ha [9].

Cũng theo kết quả điều tra này, năng suất Mắc ca được trồng khảo nghiệm và người dân tự trồng tại cả 5 tỉnh vùng Tây Nguyên đã cho những kết quả khả quan. Ví dụ: Vườn cây 7 năm tuổi tại Phú Lộc, Krông Năng, Đắk Lắk cho năng suất bình quân 20 kg quả/cây, 8 năm tuổi cá biệt có cây cho 32,5 kg. Thu hoạch cả vườn trồng xen 1,3 ha với cà phê, được 2,5 tấn hạt (cho thu 375 triệu) với năng suất cà phê không thay đổi; vườn cây 5 tuổi tại xã Thạch Mỹ, Đơn Dương, Lâm Đồng cho thu hoạch bình quân 7 kg/cây.  Cây trồng phân tán theo hàng 4 tuổi tại Đắk Hring, Đắk Hà, Kon Tum cho bình quân 10 kg/cây, có cây đạt 28,5 kg;...

   Tại vùng Tây Bắc, việc phát triển cây Mắc ca còn chậm so với vùng Tây Nguyên. Tổng diện tích trồng Mắc ca toàn vùng ước đạt khoảng 600 ha, trong đó ngoài một số hộ dân trồng tự phát với diện tích không đáng kể, hiện tại mới có Công ty Mắc ca Điện Biên đã được UBND tỉnh Điện Biên cấp giấy phép đầu tư dự án 4.000 ha, đến nay Công ty đã trồng được 70 ha đầu tiên và xây dựng vườn ươm sản xuất giống. Ở Lai Châu, Công ty An Minh Châu mới bước đầu làm thủ tục để xây dựng dự án trồng 3.000 ha Mắc ca, chưa có kết quả cụ thể. Dự án khuyến lâm phát triển Mắc ca vùng Tây Bắc mới bắt đầu trồng các mô hình từ năm 2012 đến hết 2013 được hơn 100 ha [10].

Ngoài ra, ở một số địa phương vùng Bắc Trung bộ cũng có một số diện tích trồng Mắc ca do các hộ dân trồng tự phát, nhỏ lẻ, không đáng kể.                                                                                                                     

+ Về phương thức trồng Mắc ca. Hiện nay ở Việt Nam có 2 phương thức trồng chủ yếu:

- Trồng thuần là trồng các dòng giống khác nhau của loài Mắc ca trên diện tích đất trống  hoặc trên đất phá bỏ các loài cây công nghiệp đã già cỗi, kém hiệu quả kinh tế như cà phê, điều, cao su... Hoặc trên đất cây nông nghiệp ngắn ngày trên vùng đồi, thoát nước có khả năng trồng được Mắc ca. Như tại vùng Tây Nguyên chủ yếu là diện tích rừng, các diện tích còn lại chủ yếu đã trồng cây nông nghiệp, công nghiệp nên diện tích trồng mới thuần loài Mắc ca khá ít với 16/58 mô hình (chiếm 27%) [9].

- Trồng xen canh với các loài cây hiện có cần được che bóng. Các loài cây hiện có có thể xen canh được với cây Mắc ca gồm: Cây cà phê (chủ yếu), chè, tiêu và cây ăn quả, ngoài ra còn xen canh với cây nông nghiệp, công nghiệp ngắn ngày. Đặc biệt ở vùng Tây Nguyên, người dân rất ưa thích trồng cây Mắc ca với cây cà phê chè hoặc cà phê vối. Kết quả điều tra của nhóm xây dựng đề án quy hoạch phát triển Mắc ca vùng Tây Nguyên ghi nhận được 41/58 (chiếm 71%) mô hình trồng xen Mắc ca [9].

- Bên cạnh hai phương thức trồng nêu trên, người dân còn trồng phân tán ven đường, ven nương rẫy và xung quanh nhà. Kết quả điều tra ở Tây Nguyên  có 1/58 mô hình (chiếm 2%). Cây trồng phân tán thường khỏe mạnh, xum xuê và cho năng suất cao hơn [9].

+ Về các dòng, giống: Hiện tại Việt nam có khoảng trên 30 dòng, giống Mắc ca. Các dòng, giống được nhập từ các cá thể mẹ ưu trội:

- Từ Úc, gồm các dòng như 246, 344, 741, 816, 842, 849, A4, A16, A38,...

- Từ Trung Quốc như: QN1, Dadow, 788, 800, 695,...

- Hawai (Mỹ) gồm các dòng: HMAC38, 294, 788, 756, 508, 344,...

Trong đó nhiều dòng tỏ ra phù hợp với các tiểu vùng sinh thái và có sinh trưởng, sản lượng khá như các dòng 482, 714, 900, 800, 695 cho vùng Ba Vì và những vùng có điều kiện sinh thái tương tự (theo QĐ số 2039-BNN-TCLN ngày 01/9/2011), các dòng OC, 246, 816, 849 cho huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự (theo QĐ số 2040-BNN-TCLN ngày 01/9/2011). Bên cạnh đó có nhiều dòng khác cũng tỏ ra khá tốt như A38, 788, QN1, Dadow,...cho các vùng sinh thái khác nhau.

+ Về sản xuất cây giống:

Gần đây, đã có nhiều vườn ươm được hình thành để sản xuất giống cây con phục vụ nhu cầu mở rộng diện tích trồng cây Mắc ca của nhân dân các tỉnh có khả năng phát triển Mắc ca. Lượng giống được cung cấp hàng năm trong 3-4 năm trở lại đây trên toàn quốc khoảng 150.000 cây ở khoảng 20 vườn ươm. Cây con được sản xuất chủ yếu là cây ghép của các dòng có ưu thế nêu trên tại các vùng cụ thể [13]. Tuy nhiên, năng lực sản xuất cây giống của các cơ sở trong cả nước hiện nay có thể đạt đến 500.000 cây/năm đủ để trồng khoảng 2.000 ha/năm [14].

+ Về công tác khuyến nông cho phát triển cây Mắc ca:

Kết quả điều tra tại vùng Tây Nguyên của Viện Điều tra và Quy hoạch rừng thể hiện tại bảng 14. Người dân vẫn còn thiếu các thông tin về kỹ thuật, thị trường, đặc biệt là nguồn gốc về giống cây trồng và thị trường sản phẩm khi trồng nên họ trồng với phương châm trồng thử. Tuy nhiên cũng có một số gia đình, công ty đã tìm hiểu khá kỹ và mạnh dạn quyết định đầu tư với diện tích lớn (như gia đình anh Đồng Hữu Công, tại huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai trồng 3 ha xen canh với cây cà phê vối và 10 ha trồng thuần; Công ty Nữ Hoàng đang xây dựng vùng trồng 500 ha tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông,...). Đáng chú ý là người dân biết được qua tivi, internet khá nhiều thông qua các buổi phát của mục Nhà nông ở các kênh phát sóng của đài VTV và các đài truyền hình địa phương.

4. Những thuận lợi và khó khăn của chính sách đến phát triển cây Mắc ca thời gian vừa qua và giai đoạn tới.

Hiện tại các chính sách cho cây Mắc ca đã và đang phát huy hiệu quả như chọn được các dòng giống cho một số vùng, xây dựng được các mô hình, các phương thức trồng cây Mắc ca. Công tác quy hoạch chỉ ra được các vùng phù hợp và định hướng được quy mô, nội dung và tiến độ phát triển cây Mắc ca cho vùng Tây Nguyên và Tây Bắc. Những chính sách đó là cơ sở chứng minh việc phát triển cây Mắc ca ở các vùng phù hợp là rất khả thi. Về công tác giao đất nông lâm nghiệp, qua một quá trình dài thực hiện, đại bộ phận tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đã có qũy đất đai ổn định, đây là cơ sở quan trọng cho việc đầu tư sản xuất kinh doanh Mắc ca.

Tuy nhiên, Mắc ca là cây trồng  mới ở Việt Nam, chỉ phát triển được trên những tiểu vùng có phạm vi nhất định, lại sau một thời gian dài mới cho sản phẩm. Trong khi ở Việt Nam người tiêu dùng chưa quen với các sản phẩm Mắc ca, người dân còn thiếu thông tin cần thiết để gây trồng Mắc ca đạt hiệu quả cao, doanh nghiệp chưa có niềm tin để mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực mới này. Vì vậy,  cần thêm thời gian và sự quan tâm của các cấp chính quyền.

5. Đề xuất và kiến nghị các giải pháp cho phát triển Mắc ca ở Việt Nam.

 Giải pháp về quy hoạch và đất đai

- Trên cơ sở quy hoạch định hướng phát triển cây Mắc ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, đặc biệt là phân vùng thích nghi phát triển cây Mắc ca vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, các địa phương chỉ đạo thực hiện công tác lập Dự án đầu tư phát triển cây Mắc ca toàn tỉnh hoặc từng vùng gắn với công tác chế biến làm cơ sở đầu tư sản xuất kinh doanh.

- Thực hiện rà soát quy hoạch lại hệ thống nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị định 200/2004/NĐ-CP, nếu những diện tích quản lý, kinh doanh không hiệu quả, người dân xâm lấn, đánh giá lại nhu cầu sản xuất đất đai của người dân để chuyển những diện tích này sang đất nông nghiệp.

- Tiếp tục thực hiện triệt để việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp gắn với giao rừng đến các tổ chức, hộ gia đình theo quy định của Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29 tháng 01 năm 2011 về việc Hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp. Đặc biệt là đất lâm nghiệp do UBND xã quản lý chưa giao cho chủ cụ thể để giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh. Trước mắt ưu tiên thực hiện công tác  giao đất tại các vùng thích hợp và rất thích hợp với cây Mắc ca để có cơ sở đầu tư sản xuất Mắc ca và có cơ sở pháp lý để vay vốn sản xuất.

- Tiếp tục thực hiện công tác giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích nông nghiệp theo Nghị định số 64/CP của Chính phủ.

. Giải pháp về cơ chế chính sách

Vận dụng các chính sách hiện có và đề xuất, chỉnh sửa, bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách mới nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho việc phát triển sản phẩm, gồm:

Chính sách về đất đai: Đẩy mạnh công tác giao đất trồng cây Mắc ca bằng nguồn hỗ trợ của các Dự án hỗ trợ phát triển trong và ngoài nước.

Có chính sách cụ thể về vay vốn, hỗ trợ lãi suất vốn vay cho phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là ở vùng dân tộc khó khăn thuộc Chương trình 30a, hỗ trợ xúc tiến thương mại đầu tư, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sản phẩm nông nghiệp,...

Chính sách về hỗ trợ công tác khuyến nông khuyến lâm trong những năm đầu, chính sách hỗ trợ cây giống ban đầu cho các vùng đồng bào dân tộc nghèo, biên giới.

Xây dựng chính sách đặc thù về phát triển cây Mắc ca trên vùng đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng như hỗ trợ cây giống, khuyến nông khuyến lâm, về tín dụng đầu tư vì cây Mắc ca là cây đa tác dụng, cây lâm nghiệp tạo môi trường sinh thái như rừng.

. Giải pháp về nguồn nhân lực

- Tận dụng nguồn lao động đang sản xuất cho các loài cây khác vì mùa chăm sóc, thu hoạch cây Mắc ca ít trùng với các mùa vụ chăm sóc, thu hoạch cây công nghiệp (chủ yếu là cà phê) trên địa bàn, góp phần tăng thu nhập cho lao động.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ các cấp, đặc biệt là ở cấp xã và những hộ dân, doanh nghiệp trực tiếp tham gia phát triển cây Mắc ca.

- Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm bằng việc tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái và xử lý, bảo quản sản phẩm, phòng trừ sâu bệnh hại, học tập các mô hình sản xuất trồng cây Mắc ca.

- Đào tạo, tập huấn kỹ thuật chế biến, bảo quản  và thông tin thị trường sản phẩm trong và ngoài nước.

- Đầu tư cho nhân lực nghiên cứu chuyên sâu, trình độ cao để trở thành các chuyên gia, nhà tư vấn về cây Mắc ca một cách đồng bộ các khâu sản xuất, chế biến, sâu bệnh, ...

- Thường xuyên tổ chức các hội thảo khoa học, học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước về cây Mắc ca.

- Đầu tư thoả đáng cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

3.1.4. Giải pháp về vốn đầu tư

- Vốn ngân sách nhà nước

Vốn cho trồng rừng sản xuất, khuyên lâm và các hỗ trợ khác theo Thông tư số 03/2012/TTLT-BKHĐT-BNNPTNT-BTC ngày 05 tháng 6 năm 2012 hướng dẫn thực hiệnQuyết định 147/2007/QĐ-TTg và Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg, vốn cho hỗ trợ xóa nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, vốn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 61/2010/NĐ-TTg.

- Vốn tín dụng

Vốn vay tín dụng trong nước: Bao gồm các hạng mục công việc: Vốn đầu tư cho rừng sản xuất như cải tạo rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế; nâng cao chất lượng rừng tự nhiên; trồng rừng sản xuất, nông lâm kết hợp.

Các ngồn vốn vay gồm: cho trồng rừng sản xuất theo Cơ chế trồng rừng số 95/CP-NN, ngày 23/1/2003 của Chính phủ, vốn vay của các doanh nghiệp theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; vốn vay tín dụng theo Nghị định 61/2010/NĐ-TTg ngày 04/6/2010. Đây là các nguồn vốn tín dụng ưu đãi theo chủ trương của nhà nước cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, cải tạo môi trường.

- Vốn tự có của dân và của doanh nghiệp, vốn liên doanh liên kết

Ngoài vốn ngân sách và vốn vay tín dụng đầu tư cho các hạng mục như đã nêu ở trên, các doanh nghiệp và các hộ gia đình, cá nhân sử dụng vốn tự có và góp vốn thông qua công lao động, vốn góp, vốn liên doanh liên kết phát triển và chế biến sản phẩm Mắc ca.

 Giải pháp về thương mại và xúc tiến thị trường tiêu thụ sản phẩm

- Nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm, đa dạng sản phẩm sau chế biến, sản phẩm phải đáp ứng được yêu cầu về chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, châu Âu, Mỹ, Nhật Bản...để sản phẩm dễ dàng tiêu thụ ở thị trường nội địa và xâm nhập thị trường quốc tế.

- Tăng cường công tác thông tin kinh tế, nhất là thông tin về thị trường, giá cả để người sản xuất nắm bắt kịp thời, xác định được kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường.

- Đẩy mạnh tiếp thị, quảng cáo, thiết lập mạng lưới thu mua hàng hoá, phân phối và bán sản phẩm ở trong nước và quốc tế. Tăng cường liên doanh với các đối tác đã có kinh nghiệm sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm (đầu tư, bảo hộ, bao tiêu sản phẩm...) giữa các cơ sở chế biến với người dân trồng cây Mắc ca theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.

- Tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng về xúc tiến đầu tư thương mại trung ương và các tỉnh để tiếp cận thị trường trong và ngoài nước.

- Xây dựng chính sách khuyến mại, nhằm khuyến khích xuất khẩu dựa trên một số ưu đãi về vốn, thuế và các điều kiện phục vụ hoạt động kinh doanh. Thành lập quỹ cho hoạt động xúc tiến thương mại nhằm hỗ trợ các đơn vị tham gia sản xuất - xuất khẩu.

- Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác thị trường, xúc tiến thương mại trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Mắc ca trên địa bàn.

- Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các khâu trong quá trình sản xuất ngay từ khi cung ứng nguyên liệu, vật tư, kỹ thuật, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm. Hệ thống dịch vụ cần được sắp xếp, tổ chức, quản lý và phát triển theo hướng gắn kết chặt chẽ với người sản xuất, hình thành đại lý cung ứng vật tư nguyên liệu, thiết bị kỹ thuật, mua và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với sản phẩm xuất khẩu.

- Xây dựng mạng lưới thu mua và tiêu thụ Mắc ca ở các trung tâm thương mại ở cấp huyện và các trung tâm tiểu vùng, giúp các xã xây dựng mới hoặc mở rộng trao đổi mua bán hàng hoá nông lâm sản.

- Liên doanh và ký kết hợp đồng tiêu thụ nhân Mắc ca ở những cơ sở chế biến bánh kẹo, dầu ở trong nước, giúp người tiêu dùng trong nước làm quen với sản phẩm và từng bước định hướng và chiếm lĩnh thị trường nội địa.

- Thực hiện bảo hiểm nông nghiệp đối với công tác phát triển cây Mắc ca, phòng tránh rủi do do thiên tai và biến động của thị trường.

     6. Các định hướng về khoa học công nghệ phục vụ phát triển Mắc ca ở Việt Nam

- Ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong việc chọn giống, tạo giống có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái.

Các nhà chọn giống cho biết, qua theo dõi 6-7 năm trồng ở Việt Nam, trong số giống Mắc ca được nhập nội, có những giống như 816, 842, 849, 695, 788, 900, OC, 741, Daddow… được đánh giá tốt. Tuy nhiên theo tiêu chuẩn chọn giống của nhiều nước, thì một giống Mắc ca tốt trong tương lai phải có năng suất cao (trên 5 tấn hạt/ha/năm), bắt đầu cho thu hoạch sau 3-4 năm trồng, năm thứ 10 năng suất đạt 5 tấn hạt/ha/năm và từ năm thứ 14-15 trở đi, năng suất phải cao hơn nữa, có khả năng đạt 15 tấn hạt/ha/năm. Ngoài năng suất ra, giống tốt phải có chất lượng nhân hạt đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là phải có tỷ lệ thu hồi nhân cao (trên 40%), cũng như các chỉ tiêu khác như hàm lượng dầu trên 80%, tỷ lệ chất béo không no cao…

- Một hướng đi có triển vọng là áp dụng các chất kích thích sinh học để tăng tỷ lệ ra hoa và đậu quả của Mắc ca đến 25%.

- Nghiên cứu, chuyển giao các phương thức hỗn giao các dòng giống Mắc ca trên 1 vườn, nghiên cứu mô hình kinh doanh tổng hợp Nông - Lâm - Súc tạo vùng nguyên liệu có chất lượng tốt, năng suất cao, hiệu quả tổng hợp.

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu bảo quản giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch cho sản phẩm như các phương pháp bảo quản, phơi khô, sấy khô, lưu trữ kho...

- Nghiên cứu, chuyển giao, phổ biến công nghệ, kỹ thuật sơ chế và chế biến sản phẩm cuối cùng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, chế phẩm, hàng hóa và phục vụ đa dạng nhu cầu tiêu dùng trong nước và quốc tế như sản bánh kẹo, thức ăn, dầu ăn, dầu dưỡng da,...

- Lựa chọn các dây chuyền công nghệ tiên tiến trong chế biến, sản xuất sản phẩm Mắc ca, đón đầu công nghệ tiến tiến. Tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, giá cạnh tranh, tiết kiệm nguyên liệu và giảm đến mức thấp nhất nguy cơ về ô nhiễm môi trường. 

- Nghiên cứu, chuyển giao các phương thức sử dụng các sản phẩm phụ như vỏ quả, vỏ hạt, gỗ cây Mắc ca và các mô hình sản xuất kết hợp vật nuôi, cây trồng và các vai trò khác của cây Mắc ca như vai trò phòng hộ, cải tạo đất, lượng tồn trữ các bon và cảnh quan môi trường.

                                                                                                                           GS.TS. Trần Khắc Thi


 TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Australia Macadamia industry, Australia Macadamia, 2011.

[2]. Nut and dried fruits global statistical review 2007 – 2012, International Nuts Council – NIC, 2012.

[3]. Paul O’ Hare; Ross Loebel; Ian Skinner,  Trồng Macadamia ở Autralia,

Lê Đình Khả dịch, Nhà xuất bản nông nghiệp (2003).

[4]. Dự án Macadamia (037/05/VIE), 2007. Bản tin Macadamia Việt Nam số 1, 2007.

[5]. Nguyễn Công Tạn (2003), ”Cây Mắc ca-cây quả khô quý hiếm, dự báo khả năng phát triển ở các vùng miền núi Việt Nam”, Nhà xuất bản nông nghiệp-2003.

[6]. Nguyễn Đình Hải (2011), Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ ”Tiếp tục khảo nghiệm giống và đánh giá khả năng phát triển cây Macadamia tại Việt Nam” giai đoạn 2006 – 2010.

[7]. Trần Vinh (2010), nghiên cứu chọn lọc các giống Macadamia thích hợp vùng Tây Nguyên và khả năng phát triển cây Macadamia  bằng phương thức trồng xen, Báo cáo khoa học, Viện KHKT Nông nghiệp Tây Nguyên.

[8]. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012), Dự án khuyến nông ”Xây dựng mô hình trồng thâm canh cây Macadamia tại Tây Bắc và Tây Nguyên, giai đoạn 2012-2014.

[9]. Viện Điều tra Quy hoạch rừng (2013), Báo cáo ”Quy hoạch phát triển cây Mắc ca vùng Tây Nguyên giai đoạn 2012 – 2020, tầm nhìn đến 2025”.

[10]. Hoàng Hòe ”Phát triển công nghiệp Mắc ca”, báo Nông nghiệp Việt Nam số 122+123 ngày 15/6/2014 (trang 16).

[11]. F.C. Chalker ”Kỹ thuật chủ yếu và hiệu quả kinh tế cây Mắc ca”.

[12]. CaFberine G. Cavaletto  Đặc tính sinh lý, sinh hóa của cây Mắc ca“.

[13]. Công dụng của Macadamia: http://www.idt.vn/tin-tuc/cat60/296/Cong-dung-cua-macadamia

[14]. Macadamia là cây tỷ đô vì sao?