Cây bơ có nguồn gốc ở Mexico, được người Pháp đưa trồng ở nước ta vào những năm 1940, hiện nay bơ được trồng ở các tỉnh, thành trong cả nước, tập trung nhiều ở các tỉnh như Lâm Đồng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Daklak, Phú Thọ... So với các loại cây ăn quả khác, bơ là loại cây dễ trồng, khả năng thích nghi rộng, chống chịu khá với các bất lợi của môi trường như hạn hán, gió, đất nghèo dinh dưỡng. Ngoài vấn đề về dinh dưỡng, bơ còn là một loại trái cây khá an toàn, do có vỏ dày nên hạn chế được các loài sâu hay côn trùng chích hút, thuốc bảo vệ thực vật rất ít được dùng cho cây bơ

     Thành phần dinh dưỡng của trái bơ cao hơn nhiều loại cây khác, nhất là về mặt calo, protein, các chất muối khoáng; bơ là thực phẩm lý tưởng cho người bị bệnh tiểu đường. Hàm lượng các chất dầu thực vật trong quả bơ rất cao (3-30%) và cơ thể con người có thể hấp thụ đến 92,8%.

Bảng 1.So sánh một số trái cây về mặt chất lượng (trong 100g phần ănđược).

Loại trái cây

Calo

Nước

Prôtêin

Lipid

Đường

Vitamin B1

Vitamin C

Phospho

Kali

102

79

1.1

6.1

13.2

0.05

8

38

12

Xoài

70

79.9

0.9

0.1

18.5

0.01

13

 

4

Đu Đủ

45

87.1

0.5

0.1

11.8

0.03

73

 

24

Cam

40

88.6

0.8

0.2

9.9

0.07

43

23

21

Quả bơ giàu lipit, chất xơ tự nhiên, kali và vitamin E. Theo các nghiên cứu gần đây cho thấy quả bơ ngoài tác dụng cung cấp dinh dưỡng còn có tác dụng giúp sản phụ giảm tỷ lệ sinh con dị tật, chống lại bệnh viêm gan C.

Đặc biệt hơn trong quả bơ có chất glutathion, một hợp chất gồm 3 axit amin có khả năng chống ôxi hóa, ngăn ngừa bệnh tim, ức chế khối u.

Thịt quả bơ hoàn toàn không chứa cholesterol nhưng rất giàu lutein giúp bảo vệ mắt, tránh một số bệnh như đục thủy tinh thể.Ngoài ra, lipit trong quả bơ là hỗn hợp của những axit béo chất lượng cao W3, W6, W9 nên khẩu phần ăn giàu bơ có thể làm giảm đáng kể “cholesterol xấu” và “cholesterol tổng số”, giảm triglycerides trong huyết tương, có lợi cho bệnh nhân tim mạch, tiểu đường.

Nguồn gốc và phân loại cây bơ

     Cây bơ (Avocado hay Avocatier) có tên khoa học là Persea americana thuộc họ  Quế (Lauraceae)

     Bơ có nguồn gốc đầu tiên ở tỉnh Puebla, Mexico với sự phát triển từ hàng trăm triệu năm trước, tiếp đó các giống bơ cổ được phát hiện tại Guatemala và quần đảo Antiles, những vùng này đều thuộc khí hậu nhiệt đới và thích hợp cho sự phát triển của cây bơ sau này.

   Vùng khởi nguyên cây Bơ trải rộng từ 8 - 24 vĩ độ Bắc với cao độ từ 0 đến 2.500m so với mực nước biển. Hiện nay cây Bơ được trồng kinh doanh trong phạm vi 40 vĩ độ Bắc cho đến 39 vĩ độ Nam trên những vùng có lượng mưa từ 200mm đến trên 2.000mm, nhưng năng suất thì khác nhau.

     Hiện nay có rất nhiều chủng bơ quan trọng được lai tạo từ những giống bơ cổ, mỗi họ đều có những đặc tính riêng, tuy nhiên các giống bơ được sử dụng nhiều và đem lại hiệu quả kinh tế cao đa phần là những giống bơ thuộc họ Lauracea gồm:

  • Chủng Mexico thuộc loài Persea drymifolia
  • Chủng Guatemala thuộc loài Persea americana Mill
  • Chủng West Indian (Antilles) thuộc loài Persea americana Mill

    Mỗi chủng loại bơ thường có những đặc tính khác nhau, từ đó thích hợp với những vùng sinh thái khác nhau.

Đặc tính của 3 chủng loại bơ quan trọng:

– Chủng Mexico: Có lá thay đổi nhiều về kích thước, lá có màu xanh lục, mặt dưới nhạt hơn mặt trên, đặc biệt khi vò lá ngửi có mùi hôi anique. Trái thường dài dạng quả lê, dạng đu đủ. Chất lượng rất tốt do hàm lượng chất béo rất cao: 15-30% (trên thị trường gọi là bơ sáp). vỏ trái mỏng, thường trơn tru, khi chín có màu xanh, vàng xanh, hay đỏ tím, đỏ sẫm tùy giống. hạt hơi lớn, vỏ hạt mỏng, mặt ngoài hạt trơn láng, khi chín hạt nằm lỏng trong lòng quả nhưng lắc không kêu. Thời gian từ khi ra hoa đến lúc trái chín thường từ 8-9 tháng. Đây là chủng bơ có chất lượng cao nhất và có đặc tính chịu rét tốt nhất.

– Chủng Guatemala: có lá màu xanh sẫm hơn chủng mexico và chủng Antilles, khi vò lá không có mùi hôi. Đọt non màu đỏ tối. Thời gian từ lúc trổ hoa đến lúc trái chín thường từ 9-12 tháng. Trái nhiều cuống trái dài, vỏ hơi dày và có sớ gỗ. Da thường sần sùi như da cá sấu. Hạt nhỏ và nằm sát trong lòng quả. Thịt quả dày cơm, có hàm lượng dầu béo 10-15%. Mặt ngoài hạt láng hoặc trơn láng. Chủng này có sức chống chịu rét khá tốt.

– Chủng Antilles hoặc West Indian: có lá to, lá thường có màu sắc gần như đồng đều ở hai mặt lá; khi vò nát lá, ngửi không thấy mùi vị gì cả. Thời gian từ lúc trổ hoa đến lúc trái chín thường từ 6-9 tháng. Trái thường to, có trái rất to. Cuống trái ngắn. Vỏ trái hơi ngắn và dai, dày trung bình 0,8-1,5 mm. Da trái có màu xanh và khi chín thì đổi sang màu xanh hơi vàng. Thịt quả có hàm lượng dầu 3-10%. Hạt khá lớn và nằm lỏng trong lòng quả, khi chín lắc qua nghe tiếng kêu. Mặt ngoài của hạt sần sùi, vỏ bao quanh hạt không dính liền với hạt. Chủng Antilles chịu rét yếu nhưng chịu nóng và chịu mặn (3% trong nước tưới).

Sản xuất và thị trường bơ thế giới.

   Trong thập niên 90, tiêu thụ quả bơ bình quân đầu người trên thế giới tăng từ 376g lên 381g/năm tương ứng với nhu cầu tiêu thụ tăng 2-2,3 triệu tấn/năm.

Theo thống kê của FAO (2015), có 63 nước sản xuất bơ với tổng diện tích 417 ngàn ha, năng suất trung bình 8,2 tấn/ha, tổng sản lượng 3.222 ngàn tấn.

     Các quốc gia có sản lượng lớn trên 100 ngàn tấn là Mexico 1.040,4 ngàn tấn, Indonesia 263,6 ngàn tấn, Mỹ 214 ngàn tấn, Colombia 185,8 ngàn tấn, Brazil 175 ngàn tấn, Chile 163 ngàn tấn, Cộng hòa Dominique 140 ngàn tấn và Peru 102 ngàn tấn.

    Tuy nhiên nhiều quốc gia dành phần lớn sản lượng cho tiêu thụ nội địa, nhưng cũng có quốc gia xuất khẩu bơ mang lại nguồn thu lớn như Mexico 135,9 ngàn tấn, Chile 113,6 ngàn tấn, Israel 58,3 ngàn tấn, Tây Ban Nha 53,2 ngàn tấn, Nam Phi 28,6 ngàn tấn.

    Về năng suất trung bình quả bơ trên thế giới biến thiên rất mạnh, từ 1,3 tấn/ha (Bồ Đào Nha) tăng lên 28,6 tấn/ha (Samoa), nguyên nhân chủ yếu do giống, khả năng thâm canh, phương thức trồng, điều kiện khí hậu.

     Tuy nhiên, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới và Địa Trung Hải cây bơ cho năng suất cao hơn ôn đới, nhưng chất lượng quả bơ vùng ôn đới và kiểu khí hậu Địa Trung Hải cao hơn vùng nhiệt đới thuần.

     Mục tiêu của ngành trồng bơ toàn thế giới là cố gắng nâng cao năng suất lên trên 30 tấn/ha trong điều kiện chuyên canh theo lối công nghiệp bằng các biện pháp như giống và gốc ghép tốt, trồng dày có điều chỉnh mật độ và tạo hình, tưới nước, điều khiển dinh dưỡng giảm rụng quả, bảo vệ thực vật.

     Chính vì vậy, phát triển vùng nguyên liệu ổn định, chọn tạo giống và kỹ thuật thâm canh cao đang là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia.

Cây bơ Việt Nam.

    Tại Việt Nam, qua thực tế trồng trọt trên 50 năm cho thấy ở Tây Nguyên với cao độ trên 500 m, cây bơ sinh trưởng tốt, năng suất khá, một số cây chất lượng ngon, được xem là cây đặc sản của vùng và thu nhập từ bán quả bơ có thể lên đến 10 triệu đồng/cây.

    Tuy nhiên hiện nay cây bơ vẫn chưa có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế ở các địa phương vùng Tây Nguyên.

    Ngoài những trở ngại như cây bơ do trồng bằng hạt, không được chọn lọc, phân li mạnh hay kỹ thuật chăm sóc chưa được chú trọng dẫn đến năng suất thấp, chất lượng kém thì một trong những yếu tố có tính chất quyết định đó là giá cả thị trường

     Với đặc tính bơ là loại quả hô hấp bột phát, chủ yếu dùng để ăn tươi, khó bảo quản do vậy thời điểm chín tập trung, việc tiêu thụ gặp khó khăn dẫn đến giá thấp, trong khi các thời điểm khác giá cả lại rất cao do khan hiếm.

    Đây là thực tế cần được tháo gỡ bằng một số giải pháp tổng hợp, trong đó có kỹ thuật chọn lọc, bảo tồn giống, kỹ thuật canh tác…

     Vì vậy, để phát triển cây bơ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, vấn đề cấp thiết hiện nay là công tác nghiên cứu chọn giống để rải vụ sản xuất phù hợp yêu cầu thị trường cũng như hướng phát triển trong tương lai.

     Về thị trường tiêu thụ, ở thời điểm tháng 7, tháng 8, giá thu mua chỉ đạt trên dưới 10.000 đ/kg. Đây là thời điểm quả bơ chín đồng loạt, mỗi ngày có đến hàng trăm tấn bơ cần được tiêu thụ. 

     Thậm chí có lúc nhà vườn không thể tiêu thụ được dẫn đến để rơi rụng và thua thiệt, đây cũng là một lý do hạn chế tình hình sản xuất cây bơ tại Tây Nguyên.

     Ngoài lúc chính vụ giá có thấp thì ở những thời điểm khác, đặc biệt vụ bơ muộn chín tháng 10-11, giá rất cao. Trung bình giá bơ biến động từ 30.000-60.000 đ/kg bơ sáp (TP.HCM) và từ 35.000-40.000 đ/kg bơ sáp (Hà Nội).

     Theo một kết quả điều tra về chuỗi giá trị bơ tại Đăk Lăk của Công ty Fresh Studio Innovation Asia (Hà Lan), thì hiện nay riêng sản xuất bơ trong nước chưa đủ cung cấp cho thị trường trong nước, hàng năm còn thiếu khoảng trên 100 ngàn tấn quả tươi, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc đang có nhu cầu rất lớn.

     Hơn nữa những giống chín sớm và chín muộn còn rất ít nên khó có thể rải vụ quanh năm.

      Căn cứ vào các đặc điểm trên, có thể ghi nhận các vùng phân bố của các chủng bơ ở Việt Nam, cụ thể tại Đà Lạt-Lâm Đồng như sau:

– Vùng Đà Lạt: hiện diện chủ yếu các giống thuộc chủng Mexico do đặc điểm chịu rét rất giỏi của nó, bên cạnh đó còn phát hiện các giống thuộc chủng Guatemala, nhưng chủng này chiếm tỷ lệ rất ít.

– Vùng Đức Trọng, Đơn Dương, Bảo Lộc: trong các huyện này, chủng Antilles chiếm tỷ lệ cao nhất so với các chủng khác.

– Vùng Di Linh: được xem là vùng phân bố chủng Guatemala.

– Vùng chuyên canh bơ Tây Nguyên: tại tỉnh ĐăkLăk có khoảng 80.000 người trồng bơ với diện tích đạt gần 2.700ha, sản lượng hàng năm bán ra thị trường hơn 40.000 tấn.

Đặc điểm hình thái cây bơ

    Bơ là cây thân gỗ có chiều cao từ 15 - 20m, được tính từ chiều cao cổ rễ đến điểm phân cành đầu tiên. Tùy vào giống cây được phát triển từ hạt hoặc chồi ghép mà chiều cao của thân cây cũng biến động.

     Thân cây bơ được phát triển từ hạt sẽ có thân thẳng đứng, cây phân cành khi đạt chiều cao từ 1 - 1,5 m và chiều cao phân cành sẽ phù thuộc vào điều kiện chăm sóc kiến thiết cơ bản như phân bón, nước tưới và cả chế độ bóng che.

     Thân cây bơ được phát triển từ cành ghép sẽ phụ thuộc vào điểm ghép nối liền giữa gốc ghép và chồi ghép nên chiều cao của cây bơ ghép thường thấp hơn, phân cành thấp.

Cành bơ

    Cây bơ có hai loại cành chính là cành quả và cành vượt.

    Cành quả là những cành cho quả, nơi tập trung của hoa. Thông thường cành quả nằm ngang và có hoa tập trung ở đoạn cuối của cành

    Cành vượt là những cành phát triển chiều cao của cây, giúp cây lớn lên và tăng khả năng sinh trưởng và phát triển cho cây, cành vượt thường nằm ở phía trên, theo phương thẳng đứng, cành vượt thường là những cành non và không ra hoa. Tuy nhiên các cành phân nhánh từ cành vượt theo hướng nằm ngang sẽ là cành quả.

    Bạn cần phân biệt giữa cành quả và cành vượt trên cây bơ để tăng hiệu quả phân cành và tập trung dinh dưỡng để nuôi cành quả. Trường hợp những cành quả bị sâu bệnh và phát triển yếu chúng ta sẽ chú trọng đến phát triển cành vượt để khắc phục hiện tượng khuyết tán cho cây.

    Lá bơ có rất nhiều hình dạng khác nhau như: hình elip, hình bầu dục, hình trứng, hình mũi dá, … Tùy vào chủng và giống mà lá cây sẽ thay đổi, màu sắc lá cũng thay đổi, thông thường thì mặt trên của lá có màu đậm hơn ở dưới.

    Chiều dài lá thường đạt 10- 30 cm, đối với lá thuộc chủng mexico khi vò lá sẽ có mùi hôi.

tong quan ve cay bo 1

    Lúc con non lá thường có lông mịn, màu đỏ hoặc màu đồng. Đến khi lá trường thành sẽ có màu xanh láng và dài, gân lá rõ ràng.

Hoa cây bơ

     Cây Bơ ghép thường ra hoa và đậu quả sau 2 - 3 năm trồng. Cây Bơ ra rất nhiều hoa. Cây trưởng thành mang trên 1 triệu hoa nhưng chỉ khoảng 1% là đậu thành quả. Hoa nở rải rác suốt mùa hoa. Cá biệt có một số ít cây ra hoa 2 - 3 đợt, cho thu hoạch thêm quả trái vụ. Các chùm hoa Bơ ra ở đầu cành hoặc từ nách lá. Trên một hoa có đầy đủ bộ phận đực và cái nhưng chúng không hoạt động đồng thời. Mỗi hoa nở 2 lần, 1 lần nở đóng vai trò như hoa đực và 1 lần nở nữa đóng vai trò như hoa cái.

    Tùy và thời gian nở hoa trong ngày với vai trò là hoa đực hay hoa cái mà người ta chia cây Bơ làm 2 nhóm: A và B.

    Muốn tạo điều kiện thuận lợi cho giao phấn chéo và nâng cao tỷ lệ đậu quả thì trong một vườn hoặc các vườn lân cận nhau phải có một cây nhóm A lẫn cây nhóm B. Nhiều giống Bơ nhiệt đới vẫn có khả năng tự thụ vì nướm vẫn có khả năng nhận phấn khi hoa nở lần 2, do đó cây mọc riêng biệt một mình vẫn có khả năng đậu quả. Tuy nhiên, để đảm bảo năng suất cao nên trồng trong cùng vườn cây nhóm A lẫn nhóm B. (Nướm có khả năng nhận hạt phấn - hoa ở giai đoạn cái. Các bao phấn màu vàng có khả năng tung phấn - hoa ở giai đoạn đực).

 Quả bơ

    Thời gian mang quả trên cây tùy theo chủng và giống. Trong điều kiện nhiệt đới thời gian mang quả có thể kéo dài từ 5 đến 8 tháng.

     Quả Bơ non rụng nhiều sau khi đậu 2 - 3 tháng, nhất là vào đợt ra chồi lá đầu mùa mưa cạnh tranh dinh dưỡng với quả. Bón phân để giảm rụng quả vừa nuôi chồi lá.

      Để cây ra quả ổn định và chất lượng quả bảo đảm không nên cố giữ quá nhiều quả trên cây. Trong thời kỳ mang quả ổn định sau khi trồng 6 - 8 năm tuổi trở đi chỉ cần đạt năng suất 150 - 200 kg/cây.

      Tại một thời điểm trên cây có nhiều cỡ quả với độ già khác nhau.Quả Bơ già không chín mềm trên cây. Quả già sinh lý vẫn còn có thể tiếp tục đeo trên cây 2 - 4 tháng. Vì vậy có thế thu hoạch muộn để tránh những thời điểm quá nhiều Bơ trên thị trường.

      Phần ăn được của quả Bơ là thịt Bơ, chiếm khoảng 65 - 75% trọng lượng quả.Lớp vỏ ngoài bao bọc và bảo vệ thịt quả. Vỏ ngoài của quả dày và hơi sần sùi có lợi cho thu hoạch, vận chuyển và bảo quản. Khi Bơ già chín lớp vỏ này có màu xanh, xanh đậm, tím hoặc đen tùy theo từng chủng giống.

      Tùy theo từng chủng, giống mà quả Bơ có nhiều hình dạng khác nhau. Hình ảnh cho thấy những dạng quả được người tiêu dùng ưa chuộng. Các dạng quả đầu nhọn quá dài rất bất lợi cho thu hoạch, vận chuyển và bảo quản thường không được ưa chuộng.

        Quả Bơ ngon và hấp dẫn khi chín có thịt quả màu vàng, chắc, không xơ, hạt đóng khít với thịt quả nhưng dễ tách khỏi thịt quả.

ĐẶC TÍNH SINH THÁI CỦA CÂY BƠ

   Cây bơ có rất nhiều giống thuộc các chủng khác nhau nên không thể nêu nên đặc điểm sinh thái nói chung.

 Về nhiệt độ: Như đã trình bày, cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ, phân bố ở độ cao dưới 1.000 – 2.700 m. Ở đây các giống thuộc chủng Guatemala, Mexico có thể chịu được nhiệt độ từ -20o đến -60oC, các giống Antilles chỉ chịu được nhiệt độ khoảng 0oC.

    Tại Đà Lạt, nhiệt độ tuyệt đối thấp rất hiếm khi đạt mức 0-10oC, nên các giống Antilles kém chịu rét nhất cũng chịu được, do đó vấn đề nhiệt độ thấp đối với cây bơ không quan trọng lắm. Vấn đề đặt ra là ảnh hưởng của nhiệt độ quá cao đối với sự chống chịu của giống và vấn đề phẩm chất biểu hiện ở hàm lượng dầu trong quả.

    Như thế mỗi giống có yêu cầu về nhiệt độ khác nhau. Chẳng hạn như giống Booth 7 bắt đầu rụng trái khi nhiệt độ xuống đến 3oC. Tuy nhiên, người ta tạm chia các giống bơ ra thành 5 nhóm căn cứ vào sức kháng lạnh như sau:

– Nhóm chịu lạnh rất giỏi: có Lula, Taylor…

– Nhóm chịu lạnh giỏi: có Nabal, Hall, Tonnage…

– Nhóm chịu lạnh khá: Booth 8, Monroe, Wagner, Choquette…

– Nhóm chịu lạnh kém: Booth 7, Waldin, Hickson, Collinson, linda…

– Nhóm chịu lạnh rất kém: Pollock, Trap…

 Ẩm độ: lượng mưa tối thích cho cả năm là 1.000 – 1.500mm. Khi bơ ra hoa, nếu gặp trời mưa dầm, ẩm độ không khí quá cao, hoa sẽ rụng nhiều. Do đó, bơ cần có một mùa khô mát để ra hoa đậu quả tốt. Mưa nhiều vào mùa quả chín cũng làm giảm chất lượng quả, hàm lượng dầu không cao.

 Gió: Cây bơ có gỗ dòn, chống gió yếu nên vấn đề trồng cây che chắn gió có tác dụng hạn chế đổ gãy đồng thời giảm tốc độ bốc thoát hơi nước vào mùa ra quả (mùa khô) để cây không bị rụng trái. Gió còn làm trái cọ sát lẫn nhau, cọ sát với lá, cành gây ra bệnh sinh lý làm giảm giá trị trái bơ.

 Đất đai: có thể trồng bơ trên nhiều loại đất khác nhau: đất sét pha cát, đất pha sét, đất thịt nặng. Nhưng vấn đề đặc biệt cần lưu ý là đất phải thông thoáng, dễ thoát nước, giầu chất hữu cơ. Lớp đất thông thoáng thoát thủy phải sâu ít nhất là 90 cm. Đất có mạch nước ngầm thấp sâu ít nhất là 2m, vì trong thời kỳ đầu sinh trưởng, rễ bơ ăn cạn, cây vẫn phát triển tốt nhưng càng về sau, bộ rễ ăn càng sâu, gặp đất úng thủy, rễ phát sinh nấm Phytophthora làm chết cây.

Giống bơ.

     Từ năm 1999 Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về chọn lọc giống bơ mới có chất lượng tốt, năng suất cao, chín nghịch vụ.

     Kết quả đã thu thập, bình tuyển được 61 dòng bơ từ các tỉnh thuộc Tây Nguyên và 12 giống bơ nhập nội có nguồn gốc từ Mỹ.

       Trong đó đã chọn lọc được 10 giống bơ gồm TA1, TA2, TA3, TA4, TA5, TA31, TA44, TA47, TA50, TA54 và 2 giống nhập nội có triển vọng Booth 7 và Hass. Các dòng, giống này có năng suất, chất lượng tốt, ổn định, vượt trội, đạt các tiêu chuẩn chọn lọc.

      Trong đó có 4 giống bơ TA1, TA3, TA5 và Booth 7 được công nhận cho sản xuất thử, theo Quyết định số 242/QĐ-TT-CCN ngày 19/5/2011 của Cục Trồng trọt.

     Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu và đánh giá gần đây nhất cho thấy có 2 giống là TA1 và Booth 7 cho năng suất và chất lượng ổn định ở cả 4 vùng sinh thái Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai và Lâm Đồng.

       Hiện nay trên thị trường đẵ xuất hiện1 giống bơ có tên Booth mới , nguồn gốc từ Mỹ được nghiện cứu và tiến hành khảo nghiệm từ Cty TNHH Tư vấn đầu tư phát triển nông lâm nghiệp EaKmát (Viện KHKTNLN Tây Nguyên).

    Ưu điểm nổi trội của bơ Booth là hàm lượng chất béo cao, đạt 15% so với 5% ở giống bơ nước và dưới 10% ở giống bơ địa phương, có hương vị thơm ngon. Ngoài ra, trái bơ có vỏ dày, thời gian bảo quản có thể kéo dài trên 10 ngày, đáp ứng yêu cầu cho xuất khẩu. Đặc biệt thời vụ thu hoạch bơ Booth vào tháng 10 – tháng 11, muộn hơn so với các giống bơ địa phương trên 2 tháng.

Một số định hướng phát triển cây bơ ở Việt Nam.

       Cây bơ và sầu riêng là 2 loài cây ăn quả chủ lực ở Tây Nguyên, cung cấp phần lớn loại trái cây này cho thị trường trong nước. Song để có sản phẩm lớn cho xuất khẩu là hàng loạt bài toán cần giải. Năm 2011 trong danh sách 21 quốc gia hàng đầu về sản lượng bơ quả do FAO thống kê vẫn chưa có tên Việt Nam. Trong khi đó, theo ông Vương Hữu Nhị, phó giám đốc sở Khoa học công nghệ tỉnh Đắc Lắc, chỉ riêng tỉnh này đến tháng 6/2016 đã trồng 20 000  ha bơ, trong đó hơn 8000 ha trên 5 tuổi cho thu hoạch với sản lượng 300 000 tấn quả mỗi năm. Tại vùng Tây Nguyên này đã ghi nhận nhiều cách làm sáng tạo, chủ động phát triển vùng nguyên liệu và thị trường cho cây bơ Việt Nam.

     Sau 10 năm xây dựng thành công thương hiệu Dakado (ghép từ chữ Đắk Lắk và Avocado) cho trái bơ đặc sản của tỉnh, công ty TNHH Thu Nhơn tại Buôn Ma Thuột mỗi năm cung cấp cho thị trường hơn một nghìn tấn bơ tươi đạt chuẩn đạt chuẩn VietGAP.

     Xác định tiềm năng thị trường còn rất lớn, các nước xuất khẩu bơ hàng đầu thế giới hiện đều ở Châu Mỹ. Gần vùng bơ Đắk Lắk có nhiều nước Châu Á đang có nhu cầu lớn về nhập khẩu bơ, nên công ty Thu Nhơn – Dakado đã đầu tư công nghệ, thiết bị chế biến cơm bơ nguyên chất, xây các kho lạnh tại vùng nguyên liệu để thu mua, lưu trữ bơ tươi. Ngoài các siêu thị và chợ truyền thống trong nước, công ty đã xuất khẩu bơ tươi đến Campuchia, Trung Quốc và chuẩn bị xuất khẩu bơ đến các thị trường xa hơn như Nhật Bản, Canada, Singapore… Tuy nhiên, với sản lượng bơ tươi không ngừng tăng, tình trạng được mùa mất giá có thể xảy ra, việc chế biến quả bơ ra các thành phẩm đắt giá dùng trong công nghệ thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm là điều cấp thiết.

   Bà Phạm Thị Thanh Trinh, Giám đốc điều hành Liên Minh Dakado, đại diện công ty Thu Nhơn cho biết trong năm 2015 công ty đã trình lên các cấp ngành liên quan dự án “Nhà máy sản xuất tinh dầu quả Bơ DAKADO” vốn đầu tư 1 triệu USD. Dự kiến mỗi năm Nhà máy sẽ tiêu thụ 10.000 tấn bơ để sản xuất tinh dầu bơ và tiêu thụ cho thị trường bơ trái, tạo thu nhập ổn định cho 1.000 hộ liên kết. Lãnh đạo tỉnh rất ủng hộ, ngân hàng đã đồng ý cho vay vốn, Hội đồng Chính sách KHCN Quốc gia họp ngày 19/8/2016 mới đây tại Đắk Lắk cũng đánh giá cao dự án, nhưng công ty cố gắng tiếp cận mãi vẫn chưa được nhà chức trách tạo điều kiện về vị trí đất đặt nhà máy cho phù hợp, nên tới nay dự án vẫn chưa thể triển khai.

-   Về giống, ngoài giống Booth 7 cho năng suất, chất lượng cao, cho quả trái vụ, nhiều doanh nghiệp, nhà vườn còn chủ động tìm nhập giống mới, có giá trị cao để trồng, chuẩn bị cho chương trình xất khẩu trong tương lai. Chủ các trang trại bơ Thùy Vân ở huyện Đắk Mil tỉnh Đắk Nông, và trang trại bơ Tiến Đạt ở Di Linh- Lâm Đồng đã thân chinh sang tận Mỹ, Úc để đem giống bơ Hass Kim cương vỏ sần, da chín ngả sang màu đen, là loại bơ quả đắt nhất thế giới về trồng thành công trên đất Tây Nguyên,  đến nay mới đủ để tặng bạn, biếu cấp trên. Trong khi loại bơ này nhập từ Mỹ, đóng hộp 2-3 trái trên các kệ trái cây sang chảnh ở TP. Hồ Chí Minh, giá tùy mùa từ 200 đến hơn 300 nghìn đồng một ký.

-   Tháng 1/ 2013 công ty Tiến Đạt cũng đã nhập giống bơ Hass của Mỹ ( đây là giống bơ chiếm 80% sản lượng bơ của Mỹ) từ trang trại Brocow, một trang trại độc quyền giống suốt 50 năm. Với 2000 cành bơ công ty đã ghép được hơn 500 cây đã ra quả bói. Tại Di Linh ( Lâm Đồng) giống Hass ra hoa vào tháng 1-3, vào mùa khô nên tỷ lệ đậu quả cao. Hiện giá bán loại bơ này từ 60-100 000 đ/ kg.

    Như vậy, bên cạnh sự năng động của nhà vườn, doanh nghiệp, nhà nước có chính sách hợp lý cho khoa học và thị trường sẽ biến Tây Nguyên là trung tâm sản xuất bơ của châu Á.

                                                          

                                                                                                                                                                   GS. TS. Trần Khắc Thi